Xuất khẩu nông lâm thủy sản 3 tháng đầu năm 2026 ước đạt 16,69 tỷ USD

Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 16,69 tỷ USD (tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025). Giá trị xuất siêu nông, lâm, thủy sản đạt 4,78 tỷ (tăng 12%).

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản của Việt Nam trong tháng 3/2026 ước đạt 6,02 tỷ USD (tăng mạnh 47,8% so với tháng trước, song giảm nhẹ 1,5% so với cùng kỳ năm trước).

Tính chung 3 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 16,69 tỷ USD (tăng 5,9% so với cùng kỳ năm 2025). Giá trị xuất siêu nông, lâm, thủy sản đạt 4,78 tỷ (tăng 12%).

Thông tin cụ thể tại họp báo thường kỳ do Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức sáng 1/4 tại Hà Nội, ông Trần Gia Long, Phó Vụ trưởng Vụ Kế hoạch - Tài chính, cho biết trong tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản 3 tháng đầu năm 2026, giá trị xuất khẩu các mặt hàng nông sản đạt 8,93 tỷ USD (tăng 4,1%); giá trị xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 197,7 triệu USD (tăng 54,3%); giá trị xuất khẩu thủy sản đạt 2,62 tỷ USD (tăng 13,3%); giá trị xuất khẩu lâm sản đạt 4,11 tỷ USD (giảm 2,4%); giá trị xuất khẩu đầu vào sản xuất đạt 834,3 triệu USD; giá trị xuất khẩu muối đạt 3,3 triệu USD (tăng 31,7%).

Xét theo thị trường, châu Á tiếp tục là khu vực tiêu thụ lớn nhất các mặt hàng nông, lâm, thủy sản của Việt Nam, chiếm 45,1% thị phần. Tiếp theo là châu Mỹ (20,7%) và châu Âu (16,2%), trong khi châu Phi và châu Đại Dương chiếm tỷ trọng nhỏ, lần lượt 2,1% và 1,4%. So với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu sang châu Á tăng 15,3%, châu Âu tăng 4,8% và châu Đại Dương tăng 20,1%; ngược lại, xuất khẩu sang châu Mỹ giảm 3,4% và châu Phi giảm mạnh 29%.

Ở cấp độ thị trường, Trung Quốc tiếp tục là đối tác lớn nhất với thị phần 22,1%, tiếp đến là Hoa Kỳ (18,3%) và Nhật Bản (7,1%). Trong 3 tháng đầu năm, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng mạnh 37,6%, sang Nhật Bản tăng nhẹ 0,7%, trong khi thị trường Hoa Kỳ giảm 5,2% so với cùng kỳ năm trước.

Trong quý I/2026, một số mặt hàng ghi nhận đà tăng trưởng tích cực, đóng vai trò nâng đỡ chung cho xuất khẩu nông sản. Điểm sáng nổi bật hạt tiêu khi xuất khẩu đạt 64,6 nghìn tấn, tương đương 417,5 triệu USD, tăng mạnh 36,8% về khối lượng và 28,8% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025, dù giá xuất khẩu bình quân giảm 5,9%. Cao su cũng duy trì tăng trưởng với 411,2 nghìn tấn, trị giá 751,8 triệu USD, tăng 8% về khối lượng và 2,4% về giá trị. Đáng chú ý, xuất khẩu sang một số thị trường như Indonesia và Ấn Độ tăng mạnh, lần lượt 93,2% và 24,6%, bù đắp phần giảm tại thị trường chủ lực Trung Quốc.

Rau quả cũng tiếp tục là nhóm có tốc độ tăng trưởng cao, đạt 1,54 tỷ USD, tăng 32,1% so với cùng kỳ. Trung Quốc vẫn là thị trường chủ lực, chiếm 54% thị phần, với mức tăng trưởng lên tới 76,2%; xuất khẩu sang Hoa Kỳ và Hàn Quốc cũng tăng lần lượt 21,4% và 4,1%.

Bên cạnh đó, một số mặt hàng chủ lực lại ghi nhận xu hướng giảm giá trị, chủ yếu do tác động của giá xuất khẩu đi xuống. Cụ thể, càphê xuất khẩu đạt 577,3 nghìn tấn với kim ngạch 2,71 tỷ USD, tăng 12,6% về khối lượng nhưng giảm 6,4% về giá trị do giá xuất khẩu bình quân giảm mạnh 16,9%.

Dù vậy, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, một số thị trường vẫn tăng trưởng tốt như Đức và Tây Ban Nha, trong khi Italy và Philippines giảm sâu.

Gạo xuất khẩu đạt 2,3 triệu tấn, tương đương 1,11 tỷ USD, gần như đi ngang về khối lượng (tăng 0,2%) nhưng giảm 7,8% về giá trị do giá xuất khẩu bình quân giảm 8%. Hạt điều ghi nhận mức xuất khẩu giảm nhẹ với 120,9 nghìn tấn và 823,5 triệu USD, giảm 1% về khối lượng và 1,8% về giá trị.

Về nhập khẩu, ông Long cho biết kim ngạch nhập khẩu nông, lâm, thuỷ sản tháng 3 đầu năm ước đạt 4,46 tỷ USD (tăng 37% so với tháng trước và tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2025). Tổng kim ngạch nhập khẩu nông, lâm, thuỷ sản 3 tháng qua đạt 11,91 tỷ USD (tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước).

Trong đó, giá trị nhập khẩu các mặt hàng nông sản đạt 7,62 tỷ USD (tăng 6,3%); giá trị nhập khẩu sản phẩm chăn nuôi đạt 1,16 tỷ USD (tăng 10%); giá trị nhập khẩu thủy sản đạt 746,8 triệu USD (giảm 1,8%); giá trị nhập khẩu lâm sản đạt 786,8 triệu USD (tăng 16,1%); giá trị nhập khẩu đầu vào sản xuất đạt 1,59 tỷ USD (giảm 13%); giá trị nhập khẩu muối đạt 9,1 triệu USD (tăng 75,6%).

Xét theo vùng lãnh thổ, Việt Nam nhập khẩu các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản chính nhiều nhất từ các thị trường thuộc khu vực châu Á và châu Mỹ với thị phần lần lượt là 27,7% và 26,6%. Thị phần của 3 khu vực châu Đại Dương, châu Âu, và châu Phi nhỏ, lần lượt là 4,6%, 3,9%, và 3,8%.

So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị nhập khẩu nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2026 từ khu vực châu Á giảm 2,7%; châu Mỹ tăng 10,9%; châu Đại Dương tăng 38,2%; châu Âu giảm 3,3%; và châu Phi tăng 56%.

Xét theo thị trường chi tiết, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Brazil là 3 thị trường cung cấp các mặt hàng nông, lâm, thuỷ sản chính lớn nhất cho Việt Nam với thị phần lần lượt là 11,8%, 9,9%, và 9,8%. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị nhập khẩu nông, lâm, thuỷ sản của Việt Nam 3 tháng đầu năm 2026 từ thị trường Hoa Kỳ tăng 53,4%, Trung Quốc tăng 13,3%, và Brazil tăng 11,1%./.

(Vietnam+)