Xử lý vi phạm hành chính: Tăng tính răn đe, không để người vô can chịu thiệt

Nâng mức phạt, mở rộng biện pháp cưỡng chế để tăng răn đe, nhưng xử lý vi phạm hành chính phải đúng người, đúng hành vi, không để người vô can chịu thiệt và quyền hợp pháp của người dân bị ảnh hưởng.

Hoàn thiện cơ chế xử lý vi phạm hành chính không chỉ nhằm tăng hiệu lực răn đe, giữ nghiêm kỷ cương pháp luật, mà còn phải bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, doanh nghiệp. Bởi vậy, những đề xuất như nâng mức phạt tiền tối đa, ngừng cung cấp điện, nước, Internet hay mở rộng các trường hợp áp dụng biện pháp hạn chế quyền đều đặt ra yêu cầu phải xác định rõ căn cứ, điều kiện và trách nhiệm khi thực thi.

Tại phiên thảo luận Tổ chiều 26/10, các đại biểu thuộc Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng và các tỉnh Lạng Sơn, Hà Tĩnh cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Bên cạnh yêu cầu tăng hiệu quả xử lý, nhiều ý kiến tập trung vào việc bảo đảm mức phạt tương xứng, tránh để biện pháp cưỡng chế ảnh hưởng đến người không liên quan và kiểm soát chặt những quy định có thể tác động đến quyền của cá nhân.

Tăng mức phạt cần bảo đảm tương xứng

Dự thảo Luật đề xuất nâng mức phạt tiền tối đa từ 1 tỷ đồng lên 1,5 tỷ đồng đối với cá nhân và từ 2 tỷ đồng lên 3 tỷ đồng đối với tổ chức. Theo đại biểu Vũ Văn Tiến (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng), việc nâng mức phạt là cần thiết để xử lý nghiêm những hành vi vi phạm nghiêm trọng, cố ý, thu lợi bất chính hoặc gây hậu quả lớn, tránh tình trạng chế tài không đủ sức răn đe, khiến người vi phạm coi tiền phạt chỉ như “muỗi đốt inox”.

Tuy nhiên, tăng mức phạt không đồng nghĩa với việc áp dụng một mức xử lý cao mà chưa tính đến khả năng chấp hành. Đại biểu lưu ý, mức phạt cần tương xứng với tính chất, mức độ vi phạm, nhất là đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ. Nếu tiền phạt vượt quá khả năng chi trả, khiến cơ sở kinh doanh phải đóng cửa, người lao động mất việc trong khi hậu quả vi phạm vẫn chưa được khắc phục, cần xem xét liệu việc xử phạt có thực sự đạt mục tiêu đề ra hay không.

Đại biểu Vũ Văn Tiến, Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng. (Ảnh: QH)

Từ yêu cầu đó, đại biểu đề nghị rà soát các quy định về hoãn, giảm, miễn hoặc nộp phạt nhiều lần đối với trường hợp thực sự khó khăn nhưng có thiện chí chấp hành, đồng thời ngăn ngừa việc lợi dụng chính sách để né tránh trách nhiệm. Như vậy, tính răn đe của chế tài cần được đặt trong mối quan hệ với khả năng thực thi và mục tiêu khắc phục hậu quả, thay vì chỉ dựa vào mức tiền phạt.

Không chỉ mức phạt, thời hiệu xử phạt cũng cần có cơ sở thực tiễn rõ ràng. Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn (Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng) đề nghị làm rõ căn cứ tăng mức phạt và kéo dài thời hiệu xử phạt lên đến 3 năm trong một số lĩnh vực; đồng thời phân biệt những hành vi khó phát hiện với tình trạng chậm trễ trong tổ chức phát hiện, xử lý vi phạm. Đại biểu nhấn mạnh: “Không nên dùng kéo dài thời hiệu để thay thế trách nhiệm phát hiện, xử lý kịp thời”.

Đại biểu cũng lưu ý yêu cầu bảo đảm thống nhất giữa Luật Xử lý vi phạm hành chính với các luật chuyên ngành, nhất là trong lĩnh vực chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Việc rà soát cần hạn chế chồng chéo về mức phạt và thẩm quyền xử lý, tránh để những bất cập trong hệ thống quy định tiếp tục phải giải quyết bằng văn bản dưới luật.

Cưỡng chế đúng đối tượng

Nếu tăng mức phạt nhằm nâng sức răn đe, thì các biện pháp cưỡng chế phải bảo đảm quyết định xử phạt được thực thi mà không gây hệ lụy cho người không có hành vi vi phạm. Đây là vấn đề được đặt ra đối với đề xuất bổ sung biện pháp ngừng cung cấp điện, nước, Internet trong một số trường hợp không chấp hành quyết định xử phạt.

Đại biểu Vũ Văn Tiến cho rằng cần có biện pháp đủ mạnh để bảo đảm thi hành pháp luật, nhất là với những trường hợp đã bị xử phạt, đình chỉ hoạt động nhưng vẫn cố tình không chấp hành. Tuy nhiên, điện, nước và Internet còn phục vụ sinh hoạt, lao động, sản xuất; việc ngừng cung cấp có thể ảnh hưởng đến những người cùng sử dụng hạ tầng nhưng không liên quan đến hành vi vi phạm. Đại biểu đặt vấn đề: “Liệu vì một người làm sai có nên để những người không có lỗi cũng phải chịu thiệt?”

Từ nguy cơ tác động đến bên thứ ba, đại biểu đề nghị đánh giá kỹ phạm vi ảnh hưởng của biện pháp này. Dự thảo đã định hướng chỉ áp dụng khi không còn biện pháp cưỡng chế phù hợp khác và phải hạn chế tác động đến các đối tượng liên quan. Theo đại biểu, cần quy định rõ trách nhiệm xác minh việc sử dụng chung hạ tầng, các trường hợp không được áp dụng và cơ chế khắc phục, bồi thường khi biện pháp bị áp dụng không đúng.

Các đại biểu thuộc Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng và các tỉnh Lạng Sơn, Hà Tĩnh cơ bản tán thành sự cần thiết sửa đổi Luật Xử lý vi phạm hành chính. (Ảnh: TTXVN)

Yêu cầu kiểm soát tương tự cũng được đặt ra với các biện pháp mới hoặc được mở rộng. Đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị làm rõ điều kiện áp dụng, thẩm quyền quyết định, thời hạn, nghĩa vụ thông báo và cơ chế rà soát đối với những biện pháp như tạm hoãn xuất cảnh, ngừng cung cấp điện, nước, kiểm định hoặc đăng ký phương tiện, cấp phép. Theo đại biểu, cần ưu tiên biện pháp ít ảnh hưởng đến quyền của người dân hơn nếu vẫn bảo đảm hiệu quả thi hành.

Riêng với biện pháp tạm hoãn xuất cảnh, việc áp dụng cần có căn cứ rõ ràng về nguy cơ bỏ trốn, quy định trách nhiệm thông báo trước và chấm dứt ngay khi người có nghĩa vụ đã hoàn thành yêu cầu. Đại biểu lưu ý: “Không nên để người dân chỉ biết mình bị tạm hoãn xuất cảnh khi đến cửa khẩu”.

Hạn chế quyền phải có căn cứ

Không chỉ các biện pháp cưỡng chế, những quy định liên quan đến giám sát điện tử, tạm giữ người hay chuyển thẩm quyền áp dụng biện pháp xử lý hành chính cũng đòi hỏi phải xác định rõ căn cứ và giới hạn thực thi. Điểm chung của các vấn đề này là việc xử lý phải dựa trên hành vi cụ thể, có cơ sở xác minh và bảo đảm quyền của người bị áp dụng biện pháp.

Góp ý về việc xử lý người đang trong thời gian quản lý sau cai nghiện nhưng cố ý không chấp hành quyết định giám sát điện tử, đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng, cho rằng cần làm rõ cơ chế xử lý để vừa bảo đảm thực thi quyết định hợp pháp, vừa bảo vệ quyền của người bị áp dụng biện pháp.

Theo đại biểu, việc xử lý phải căn cứ vào hành vi, lỗi, tính chất và mức độ vi phạm, không chỉ dựa vào việc một người từng sử dụng ma túy hoặc đang thuộc diện quản lý sau cai nghiện. Cần đánh giá hiệu quả của cơ chế hiện hành, nhất là với trường hợp đã bị xử phạt nhưng vẫn tiếp tục không chấp hành việc giám sát điện tử.

Đại biểu đề nghị phân biệt giữa xử phạt hành vi vi phạm đã xảy ra và việc buộc thực hiện nghĩa vụ đang có hiệu lực, bởi quyết định xử phạt không đồng nghĩa với việc nghĩa vụ giám sát đã được thực hiện. Đồng thời, cần xác định rõ trường hợp cố ý không chấp hành, phân biệt với sự cố kỹ thuật hoặc những trở ngại khách quan.

Đại biểu Nguyễn Thị Việt Nga, Phó Trưởng Đoàn ĐBQH thành phố Hải Phòng. (Ảnh: TTXVN)

Đối với căn cứ xác định vi phạm, đại biểu nhấn mạnh: “Dữ liệu cảnh báo là căn cứ để kiểm tra, xác minh; không nên được coi là kết luận tự động về hành vi và lỗi của người bị giám sát.” Việc không chấp hành giám sát điện tử cũng cần được phân biệt với hành vi tái sử dụng ma túy hoặc tình trạng nghiện, không thể suy diễn từ hành vi này sang hành vi khác.

Trên cơ sở đó, đề xuất bổ sung trường hợp cố ý không chấp hành giám sát điện tử vào diện áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc cần được đánh giá kỹ về tính cần thiết và tương xứng. Đại biểu đề nghị quy định cụ thể hành vi, độ tuổi, số lần vi phạm, thời hạn áp dụng và các trường hợp ngoại lệ.

Cùng với việc làm rõ căn cứ xử lý, đại biểu Nguyễn Ngọc Sơn đề nghị cân nhắc thận trọng phương án kéo dài thời hạn tạm giữ người theo thủ tục hành chính: từ mức tối đa thông thường 12 giờ lên 24 giờ, và trong trường hợp cần thiết từ 24 giờ lên 48 giờ. Việc sửa đổi cần có căn cứ rõ ràng về tính cần thiết, đồng thời quy định chặt điều kiện, thời hạn, thẩm quyền, cơ chế giám sát và khiếu nại, hạn chế tối đa việc ảnh hưởng đến quyền tự do thân thể.

Đối với đề xuất chuyển thẩm quyền áp dụng một số biện pháp xử lý hành chính từ tòa án hoặc cơ quan cấp tỉnh sang Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, đại biểu cũng đề nghị đánh giá đầy đủ nguồn lực thực thi, tính độc lập trong quyết định và cơ chế bảo đảm quyền của người bị áp dụng biện pháp./.

(Vietnam+)