'Việt Nam đạt bước tiến đáng kể về công nghệ nhờ chính sách mở cửa'
Tiến sỹ kinh tế Irina Dezhina đánh giá Việt Nam đạt bước tiến đáng kể về công nghệ nhờ chính sách “mở cửa,” thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển hạ tầng.
Ngày 18/8, trang web của Hội đồng Nga về các vấn đề quốc tế đăng tải bài viết đánh giá về bước nhảy vọt công nghệ của Việt Nam.
Tác giả bài viết, Tiến sỹ kinh tế Irina Dezhina, nghiên cứu viên chính của Viện Xã hội học thuộc Trung tâm Nghiên cứu Liên bang, Viện Hàn lâm Khoa học Nga, đánh giá Việt Nam đạt bước tiến đáng kể về công nghệ nhờ chính sách “mở cửa,” thu hút đầu tư nước ngoài và phát triển hạ tầng.
Theo phóng viên TTXVN tại Moskva, bài viết nêu rõ theo Chỉ số Đổi mới Toàn cầu 2025, Việt Nam đứng thứ 44/139 quốc gia về phát triển công nghệ, cao hơn Nga (thứ 60). Hiệu quả đổi mới tổng thể của Việt Nam đứng thứ 37, vượt đáng kể thứ hạng về nguồn lực đầu vào (thứ 50). Việt Nam cũng nằm trong nhóm có hạ tầng viễn thông phát triển, với vùng phủ sóng 5G toàn quốc. Theo Chỉ số Quốc gia Số hóa 2025, Việt Nam đứng thứ 10/21 nền kinh tế châu Á-Thái Bình Dương, sau Singapore, Australia, Nhật Bản, Hàn Quốc và New Zealand.
Bà Irina Dezhina nhận định sự phát triển nhanh của ngành dịch vụ và công nghiệp tri thức, được xem là một “bước nhảy vọt” về công nghệ, chủ yếu dựa trên đầu tư nước ngoài và chính sách của chính phủ nhằm xây dựng hạ tầng, thúc đẩy xuất khẩu và thu hút FDI. Hiện nay, thu hút FDI vào các dự án có tiềm năng chuyển giao công nghệ lớn đã trở thành một trọng tâm chiến lược.
Bước ngoặt trong quá trình phát triển công nghệ của Việt Nam được xác định bắt đầu từ đường lối “Đổi mới” năm 1986.
Theo tác giả, Việt Nam có 4 lợi thế: gần các trung tâm sản xuất công nghệ lớn ở Đông Nam Á; vị trí thuận lợi để tiếp cận các thị trường Trung Quốc và Ấn Độ; sở hữu nguồn tài nguyên đất hiếm quan trọng đối với sản xuất chất bán dẫn; đồng thời nhanh chóng khôi phục các yếu tố của kinh tế thị trường, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghệ.
Bên cạnh đó, bài viết cho rằng thành công về công nghệ của Việt Nam chưa đồng nghĩa với khả năng tự chủ công nghệ. FDI đóng góp lớn cho tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) nhưng mức độ chuyển giao công nghệ và kỹ năng quản lý cho doanh nghiệp trong nước còn hạn chế. Việt Nam vẫn chủ yếu đảm nhiệm các công đoạn có giá trị gia tăng thấp và lắp ráp sản phẩm cuối cùng. Ngoài ra, chi tiêu cho khoa học vẫn thấp khi trong 7 năm qua, Việt Nam chỉ dành khoảng 0,42% GDP cho lĩnh vực này.
Theo tác giả, nguồn kinh phí nhà nước còn được phân bổ chủ yếu dựa trên quy mô nhân sự, thay vì cơ chế cạnh tranh và thành tích nghiên cứu. Việt Nam cũng thiếu chuyên gia trình độ cao, nhất là trong các lĩnh vực công nghệ cao.
Những hạn chế này cho thấy Việt Nam đã thành công trong việc thu hút và tiếp nhận công nghệ nhưng chưa hình thành đầy đủ hệ sinh thái để tạo ra công nghệ trong nước. Đây cũng là thách thức quan trọng nếu Việt Nam muốn chuyển từ vị trí công xưởng sản xuất, lắp ráp sang nền kinh tế dựa nhiều hơn vào đổi mới sáng tạo.
Về hợp tác giữa Nga và Việt Nam, bà Irina Dezhina cho rằng quan hệ đối tác chiến lược toàn diện là nền tảng để thúc đẩy hợp tác khoa học-công nghệ và đào tạo nhân lực, đặc biệt trong lĩnh vực kỹ thuật. Các lĩnh vực tiềm năng gồm giải pháp công nghệ thông tin (CNTT) phục vụ an ninh mạng, công nghệ tài chính, phát triển phần mềm cho khu vực công và y học hạt nhân. Do đó, việc thúc đẩy hợp tác giữa các doanh nghiệp công nghệ Nga quy mô vừa, tăng trưởng nhanh với doanh nghiệp Việt Nam được đánh giá có tiềm năng.
Cuối cùng, bài báo đánh giá Việt Nam đã đạt bước tiến nhanh về công nghệ nhờ “Đổi mới,” hội nhập quốc tế, thu hút FDI và đầu tư hạ tầng. Tuy nhiên, để tiến tới nền công nghệ tự chủ, Việt Nam cần giải quyết những điểm nghẽn về nhân lực chất lượng cao, đầu tư cho khoa học, năng lực nghiên cứu của đại học, liên kết FDI với doanh nghiệp trong nước và khả năng chuyển giao công nghệ. Đây cũng là những yếu tố quyết định liệu “bước nhảy vọt công nghệ” của Việt Nam có thể chuyển thành năng lực đổi mới sáng tạo bền vững trong nước hay không./.
