Vì sao đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô không đầu tư theo phương thức PPP?
Dự án đường Vành đai 5 có vai trò đặc biệt liên kết Thủ đô với các trung tâm kinh tế, khu công nghiệp và đầu mối giao thông quan trọng trong toàn vùng.
Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh đã có những giải trình làm rõ về quy mô, hình thức đầu tư, huy động nguồn vốn, cân đối vốn giữa Trung ương và địa phương và các cơ chế, chính sách đặc thù cho Dự án đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô.
Theo đó, giải trình, làm rõ ý kiến đại biểu về chủ trương đầu tư Dự án đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô tại hội trường Quốc hội sáng 12/8, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh cho biết theo quy hoạch được phê duyệt, mạng lưới giao thông vùng Thủ đô được tổ chức theo mô hình các trục hướng tâm kết nối với các tuyến vành đai. Mỗi tuyến vành đai có vị trí, vai trò, chức năng riêng trong tổ chức không gian và phát triển giao thông.
Cụ thể, Vành đai 3 chủ yếu phục vụ khu vực nội đô và đô thị Hà Nội; Vành đai 4 góp phần kết nối đô thị trung tâm với các khu vực phát triển mở rộng. Vành đai 5 có vai trò đặc biệt liên kết Thủ đô với các trung tâm kinh tế, khu công nghiệp và đầu mối giao thông quan trọng trong toàn vùng.
Tuyến đường này được kết nối với các trục hướng tâm và 6 tuyến cao tốc như Hà Nội-Lào Cai, Hà Nội-Thái Nguyên, Hà Nội-Lạng Sơn, Hà Nội-Hải Phòng, tuyến cao tốc Bắc-Nam, Hà Nội-Hòa Bình; đồng thời liên kết với các tuyến Hà Nội-Gia Bình, kết nối Hải Phòng, Quảng Ninh, liên thông các quốc lộ và hệ thống đường sắt, sân bay, bến cảng.
Đối với quy mô đầu tư và đảm bảo tầm nhìn dài hạn, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết Bộ Xây dựng đã nghiên cứu trên cơ sở dự báo nhu cầu vận tải đến năm 2050, đồng thời tính toán sự liên kết giữa 5 phương thức vận tải.
Theo phương án được tính toán, toàn tuyến dự kiến đầu tư 6 làn xe cao tốc, kết hợp với đường song hành 2 làn mỗi bên. Khi hoàn thành, tuyến có tổng cộng 10 làn xe, gồm 6 làn cao tốc và 4 làn đường song hành. Phạm vi chiều rộng đường khoảng 120m, đồng thời dự án bố trí quỹ đất dự trữ để tiếp tục phát triển trong tương lai.
Dự án Vành đai 5 được chia thành 22 dự án thành phần, triển khai trên địa bàn 7 địa phương gồm tuyến cao tốc, đường song hành và giải phóng mặt bằng, tạo điều kiện để từng địa phương chủ động triển khai các phần việc thuộc trách nhiệm của mình và cách tổ chức này phù hợp với điều kiện thực tế và phạm vi quản lý của từng địa phương.
Đề cập đến ý kiến hình thức đầu tư, người đứng đầu Bộ Xây dựng cho hay phương án đầu tư theo hình thức đối tác công-tư (PPP) đã được nghiên cứu, tuy nhiên chưa khả thi. Theo quy định hiện hành, tỷ lệ vốn Nhà nước tham gia tối đa là 50%, trong khi kết quả tính toán cho thấy dự án cần khoảng 80% vốn Nhà nước để bảo đảm khả năng thực hiện, thời gian hoàn vốn khoảng 20 năm.
“Các nhà đầu tư từng tham gia một số dự án trước đây đang gặp khó khăn về nguồn vốn chủ sở hữu. Trong khi theo quy định nhà đầu tư phải đáp ứng tỷ lệ vốn chủ sở hữu theo quy định và có xác nhận tín dụng của ngân hàng. Đây là những yếu tố khiến việc lựa chọn phương thức PPP cho dự án ở thời điểm hiện nay gặp nhiều khó khăn,” Bộ trưởng Trần Hồng Minh thừa nhận.
Trước kiến nghị của các đại biểu về việc mở rộng cơ chế, chính sách đặc thù của Dự án đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô cho các dự án giao thông khác, Bộ trưởng Trần Hồng Minh cho biết, Bộ Xây dựng sẽ nghiên cứu, trình Quốc hội để các tuyến cao tốc trong giai đoạn 2025-2030 có thể được áp dụng các cơ chế phù hợp, qua đó, góp phần tháo gỡ những điểm nghẽn, vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện các dự án trước đây.
Trước đó, theo Tờ trình của Chính phủ, Dự án đường Vành đai 5-Vùng Thủ đô dài khoảng 349km, dự kiến đi qua 7 địa phương gồm: Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ.
Tổng mức đầu tư sơ bộ khoảng 288.268 tỷ đồng, bao gồm phần tuyến chính cao tốc khoảng 215.192 tỷ đồng, thực hiện bằng ngân sách Trung ương và đường song hành khoảng 73.076 tỷ đồng, làm bằng vốn ngân sách địa phương. Chính phủ dự kiến bố trí cho dự án trong giai đoạn 2026-2030 khoảng 59.700 tỷ đồng.
Dự án dự kiến chuẩn bị đầu tư từ năm 2026, thực hiện năm 2027 và cơ bản hoàn thành công trình năm 2030. Các đoạn còn lại sẽ thực hiện trong giai đoạn 2026-2030, tiếp tục huy động các nguồn vốn để ưu tiên đầu tư sớm, phấn đấu hoàn thành toàn tuyến trước năm 2035./.
