Triển khai Nghị quyết 06-NQ/TW: Bứt phá sức mạnh mềm Việt Nam
Việt Nam cần thực sự đưa văn hóa trở thành mũi nhọn hành động, bứt phá sức mạnh mềm để Việt Nam tự tin chủ động hội nhập và phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị đã đặt ra sứ mệnh lịch sử mới cho công tác đối ngoại và ngoại giao văn hóa: không chỉ dừng lại ở bảo vệ lợi ích quốc gia mà phải trở thành “phương thức thể hiện bản lĩnh, bản sắc và tầm vóc Việt Nam trên trường quốc tế, là cách thức để lan tỏa giá trị văn minh Việt Nam, tạo sự tôn trọng, tin cậy và tầm ảnh hưởng trong cộng đồng quốc tế.”
Để hiện thực hóa tầm nhìn này, ngày 17/7/2026, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà đã ký Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Đây là sự cụ thể hóa quan điểm của Nghị quyết số 06-NQ/TW cũng như Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Nghị quyết số 59-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới”; thực sự đưa văn hóa trở thành mũi nhọn hành động, bứt phá sức mạnh mềm để Việt Nam tự tin chủ động hội nhập và phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới.
Đại sứ Phạm Quang Vinh, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, cho rằng tầm nhìn đối ngoại mới trong các nghị quyết gần đây của Đảng là một chỉnh thể thống nhất, có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ cùng các nghị quyết chiến lược khác về phát triển quốc gia. Đây là những nền tảng vững chắc giúp văn hóa đối ngoại thực hiện thành công bước chuyển tư duy từ "tham gia, thích ứng và tiếp nhận" sang tư duy "chủ động kiến tạo, xây dựng và đóng góp."
Trong văn hóa đối ngoại, theo Đại sứ Phạm Quang Vinh, câu chuyện Việt Nam thời đại mới cần được kể bằng tâm thế chủ động, tự tin đặt đất nước vào dòng chảy chính của thời đại, đập cùng nhịp đập và thở cùng hơi thở của thời đại thông qua việc đóng góp tinh hoa văn hóa, truyền thống hòa hiếu và tinh thần thượng tôn pháp luật vào nền văn minh nhân loại.
Đúng như chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại buổi làm việc với Ban Cán sự đảng Bộ Ngoại giao và lãnh đạo chủ chốt của Bộ Ngoại giao, tháng 8/2024: “Kết hợp nhuần nhuyễn văn hóa với ngoại giao, văn hóa trong ngoại giao, làm cho mỗi hoạt động đối ngoại không chỉ có nội dung văn hóa sâu sắc, mà còn trở thành một hoạt động văn hóa; văn hóa vừa là phương tiện, vừa là phương châm, vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu của đối ngoại; không ngừng nhân sức mạnh mềm quốc gia lên tầm cao mới”; cũng như phát biểu tại Hội nghị toàn quốc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng diễn ra sáng 11/6/2026: “Biến những "sức mạnh mềm" thành sự đồng tình, ủng hộ, hỗ trợ của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Chủ động tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, góp phần bồi đắp, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc.”
Để hiện thực hóa những tầm nhìn vĩ mô đó thành tài sản quốc gia cụ thể, Chiến lược văn hóa đối ngoại đã thiết lập hệ thống mục tiêu định lượng. Việt Nam hiện sở hữu hơn 70 danh hiệu UNESCO, dẫn đầu khu vực ASEAN, là nguồn tài nguyên to lớn cho "kinh tế di sản" phát triển bền vững.
Chiến lược đặt mục tiêu đến năm 2030, nước ta sẽ có thêm ít nhất 5 di sản/danh hiệu được các tổ chức quốc tế công nhận; xây dựng ít nhất 10 điểm đến du lịch văn hóa-di sản thành thương hiệu quốc gia có sức cạnh tranh toàn cầu; đồng thời thiết lập mới từ 1 đến 3 Trung tâm Văn hóa Việt Nam ở nước ngoài.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam hướng tới trở thành một trong những trung tâm văn hóa và sáng tạo hàng đầu khu vực; có thêm ít nhất 15 di sản/danh hiệu toàn cầu và đặc biệt là phấn đấu đưa Việt Nam lọt vào Top 3 khu vực ASEAN và Top 30 thế giới về Chỉ số Sức mạnh mềm (Soft Power Index).
Dưới góc nhìn quốc tế, ông Jonathan Wallace Baker, Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam, đánh giá rất cao hệ sinh thái di sản sống động của Việt Nam và đóng góp trách nhiệm của Việt Nam thông qua việc chủ động đề xuất Thập kỷ quốc tế về văn hóa vì phát triển bền vững được Đại hội đồng UNESCO thông qua tại Kỳ họp lần thứ 43 với sự đồng tác giả và ủng hộ của 71 nước.
Tuy nhiên, đứng trước những chỉ tiêu rất cao đó, một câu hỏi đặt ra: Khi chúng ta quyết tâm biến di sản thành động lực tăng trưởng kinh tế, làm thế nào để dung hòa được mâu thuẫn nội tại giữa yêu cầu bảo tồn nguyên bản, tôn trọng "sức chịu tải" của di sản theo khuyến nghị của UNESCO với áp lực khai thác thương mại, du lịch tối đa để đạt được các chỉ tiêu kinh tế?
Sự phát triển bền vững chỉ có thể đạt được khi chuyển đổi từ tư duy "khai thác tài nguyên di sản" sang "kinh tế di sản tuần hoàn và du lịch xanh," nơi di sản UNESCO không chỉ mang giá trị tinh thần, mà còn trở thành nguồn lực phát triển kinh tế bền vững, mang lại lợi ích thiết thực và nâng cao sinh kế cho cộng đồng địa phương.

Trưởng Đại diện UNESCO tại Việt Nam cho rằng để chuyển hóa những tiềm năng này thành đóng góp kinh tế, Việt Nam tập trung vào xây dựng các hệ sinh thái sáng tạo thay vì các dự án đơn lẻ, gắn sáng tạo với phát triển kỹ năng, thị trường và sinh kế bền vững; đầu tư vào con người thông qua giáo dục, đào tạo và các không gian sáng tạo phù hợp, để tài năng có thể phát triển lâu dài; thúc đẩy du lịch bền vững và tôn trọng các giá trị văn hóa, bảo đảm tăng trưởng gắn với bảo tồn di sản, tôn trọng sức chịu tải và mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng địa phương; tăng cường các mô hình hợp tác công-tư-cộng đồng, trong đó Nhà nước, doanh nghiệp và người dân cùng chia sẻ trách nhiệm, lợi ích trên cơ sở các khuôn khổ quản trị rõ ràng, minh bạch.
Sự phát triển của văn hóa đối ngoại cũng không chỉ giới hạn ở các không gian vật lý truyền thống mà cũng cần phải vươn mạnh mẽ lên không gian số.
Theo ông Nguyễn Văn Thuật, Phó Cục trưởng Cục Thông tin cơ sở và Thông tin đối ngoại, (Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch), dù Việt Nam sở hữu hạ tầng số phát triển nhanh với gần 80 triệu người dùng Internet, 76 triệu tài khoản mạng xã hội và 127 triệu kết nối di động, Việt Nam vẫn chủ yếu ở vị thế người sử dụng hơn là làm chủ nền tảng, tạo ra những lỗ hổng dễ bị các công cụ trí tuệ nhân tạo (AI) hay deepfake thao túng. Do đó, để vận hành tốt một hệ sinh thái văn hóa số tích hợp, rất cần nguồn nhân lực văn hóa đối ngoại vừa có chiều sâu tri thức nhân văn, năng lực ngoại giao đa phương sắc sảo, lại vừa có khả năng làm chủ các công cụ công nghệ số hiện đại như AI hay dữ liệu lớn (Big Data).
Điều này đòi hỏi phải nhanh chóng cụ thể hóa các mục tiêu bằng việc chủ động quy hoạch, đào tạo cán bộ kiêm nhiệm phù hợp với chủ trương tinh gọn bộ máy, hoạt động hiệu năng, hiệu lực, không làm phát sinh thêm đầu mối hay tăng biên chế công chức ở nước ngoài.
Đồng thời, theo đề xuất Đại sứ Nguyễn Phương Nga, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, chúng ta phải xóa nhòa ranh giới giữa đối nội và đối ngoại, lấy việc xây dựng sự đồng thuận và củng cố niềm tin vững chắc từ trong nước làm nền tảng xã hội để lan tỏa bản sắc Việt Nam ra thế giới.
Việc quán triệt Nghị quyết 06-NQ/TW song hành với triển khai thực thi Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 là một thông điệp mạnh mẽ về việc kết hợp nhuần nhuyễn sức mạnh của di sản ngàn năm văn hiến với tư duy đối ngoại chủ động, đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ số, Việt Nam đang có đầy đủ tiềm lực để thể hiện sức cạnh tranh trên trường quốc tế.
Đúng như lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Thực lực là cái chiêng mà ngoại giao là cái tiếng. Chiêng có to tiếng mới lớn,” một nền tảng văn hóa vững chắc, đậm đà bản sắc khi kết hợp với “chiếc chiêng ngoại giao” chủ động, sáng tạo sẽ là tiếng chiêng ngân vang nhất, đưa Việt Nam đập cùng nhịp đập của thời đại, tự tin sánh vai với các cường quốc năm châu./.
