Tính bổ trợ cao giữa Việt Nam và Trung Quốc trong hợp tác đầu tư chuỗi cung ứng
Sự bổ sung lẫn nhau giữa Trung Quốc và các nước thành viên trong ASEAN, đặc biệt là Việt Nam, trong lắp ráp, đóng gói, kiểm thử, cung cấp vật liệu và phát triển ứng dụng ngày càng nổi bật.
Ông Cao Kim Long - Tổng công trình sư thuộc Trung tâm Xúc tiến Internet công nghiệp Con đường tơ lụa (CPIIS) Trung Quốc - cho biết hợp tác đầu tư chuỗi cung ứng giữa Việt Nam và Trung Quốc có tính bổ trợ cao.
Ông Cao Kim Long nhận định trong những lĩnh vực có nhu cầu công nghiệp lớn như quy trình sản xuất hoàn thiện, đóng gói tiên tiến và chất bán dẫn thế hệ thứ 3, sự bổ sung lẫn nhau giữa Trung Quốc và các nước thành viên trong Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là Việt Nam, trong lắp ráp, đóng gói, kiểm thử (OSAT), cung cấp vật liệu và phát triển ứng dụng ngày càng nổi bật.
Theo ông, hợp tác Việt-Trung trong lĩnh vực bán dẫn đang ở thời điểm then chốt, chuyển từ giai đoạn “thảo luận” sang “thực hiện.”
Ông Cao Kim Long khẳng định sự đồng thuận giữa lãnh đạo cấp cao hai nước đã cung cấp định hướng chính trị vững chắc cho sự hợp tác.
Trong chuyến thăm cấp nhà nước của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Việt Nam hồi tháng 4/2025, hai bên đã ra Tuyên bố chung, trong đó nêu rõ “phấn đấu đưa hợp tác khoa học và công nghệ trở thành điểm nhấn mới trong hợp tác song phương và tìm kiếm cơ hội hợp tác trong các lĩnh vực như AI, chất bán dẫn và năng lượng hạt nhân.”
Đến tháng 4/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cũng đã có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc. Hai bên ra tuyên bố chung, nâng cấp hợp tác từ “nghiên cứu triển khai” lên “tích cực thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực như sản xuất thông minh, kinh tế số, AI, công nghệ lượng tử, chất bán dẫn và đường sắt cao tốc,” đồng thời nêu rõ “cùng nhau xây dựng chuỗi cung ứng và công nghiệp an toàn, ổn định và thành lập nhóm công tác hợp tác chuỗi cung ứng.”
Về đào tạo nhân tài, tuyên bố chung năm 2026 đề xuất “tăng cường nghiên cứu và phát triển chung trong các lĩnh vực như AI, sức khỏe, năng lượng sạch và công nghệ số để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao” và “mở rộng giao lưu khoa học văn hóa để thúc đẩy giao lưu và hợp tác giữa các nhà nghiên cứu trẻ và cán bộ công nghiệp của cả hai nước,” phía Trung Quốc cũng hoan nghênh và khuyến khích thêm nhiều sinh viên Việt Nam xuất sắc sang nước này học tập.
Ông Cao Kim Long nhận định thông qua việc ban hành “Dự thảo Chiến lược phát triển ngành công nghiệp vi mạch bán dẫn” và với kế hoạch trở thành trung tâm toàn cầu về OSAT chip bán dẫn vào năm 2030, Việt Nam đã xác định ngành công nghiệp bán dẫn là chiến lược trọng điểm quốc gia.
Trong khi đó, Trung Quốc sở hữu năng lực công nghiệp hàng đầu thế giới trong lĩnh vực OSAT với nhiều công ty hàng đầu thế giới như JCET và Tongfu Microelectronics.
Sự bổ sung lẫn nhau giữa Trung Quốc và Việt Nam trong OSAT rất tương thích: Việt Nam có lợi thế về chi phí và nguồn nhân lực kỹ sư đang phát triển nhanh chóng, trong khi Trung Quốc sở hữu hệ thống công nghệ hoàn thiện và kinh nghiệm công nghiệp quy mô lớn.
Cơ chế “Nhóm công tác hợp tác chuỗi cung ứng" được xác định rõ trong tuyên bố chung năm 2026, cung cấp các đảm bảo về mặt thể chế cho đầu tư và hợp tác giữa các công ty của cả hai nước trong lĩnh vực này.
Bên cạnh đó, tuyên bố chung giữa hai nước cũng đề xuất “nghiên cứu hợp tác về các khoáng sản trọng điểm trong khuôn khổ quy định pháp luật và chính sách công nghiệp của mỗi nước,” mở ra cơ hội hợp tác trong lĩnh vực nguyên liệu đầu vào của ngành bán dẫn. Việc kết hợp lợi thế về tài nguyên của Việt Nam đối với các khoáng sản trọng điểm (như đất hiếm) với năng lực công nghiệp của Trung Quốc trong chế biến vật liệu được kỳ vọng sẽ hình thành mô hình hợp tác toàn diện từ nguyên liệu thô đến thành phẩm.
Nhìn chung, sự đồng thuận chính trị vững chắc, những lợi thế bổ sung rõ ràng và sự hỗ trợ nền tảng thiết thực đã củng cố hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực bán dẫn.
Ông Cao Kim Long đánh giá trong vòng 1 năm, từ “nghiên cứu triển khai” đến “tích cực thúc đẩy” và từ hợp tác khoa học công nghệ nói chung đến việc thiết lập cơ chế hợp tác chuỗi cung ứng công nghiệp, thiện chí hợp tác trong lĩnh vực bán dẫn của hai nước đã được tăng cường đáng kể, lộ trình hợp tác theo đó cũng trở nên rõ ràng hơn. Điều này đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thiết kế và đảm bảo thể chế ở cấp cao cho các doanh nghiệp, viện nghiên cứu và các tổ chức xã hội tại cả hai nước triển khai hợp tác thiết thực./.
