Tích hợp chương trình mục tiêu: Động lực thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng
Giảm nghèo, dân tộc thiểu số, phát triển bền vững, đầu tư, chương trình mục tiêu, phát triển vùng, Bộ Dân tộc và Tôn giáo, dân tộc thiểu số, miền núi.
Theo Bộ Dân tộc và Tôn giáo, trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc xây dựng chương trình tích hợp (từ ba chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) là nhiệm vụ tất yếu, khách quan và cấp bách nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng và nông thôn nói chung.
Nhân dịp đầu Xuân Bính Ngọ năm 2026, phóng viên Báo Điện tử VietnamPlus (Thông tấn xã Việt Nam) đã có cuộc phỏng vấn Bộ trưởng Bộ Dân tộc và Tôn giáo Đào Ngọc Dung về tầm quan trọng của chương trình, cũng như định hướng phát triển xanh, bao trùm trong gian tới.
Góp phần xây dựng vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc
- Đầu tiên, xin Bộ trưởng cho biết đánh giá về kết quả đạt được của Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030 (giai đoạn I từ năm 2021-2025)?
Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Kết quả triển khai Chương trình Mục tiêu quốc gia dân tộc thiểu số và miền núi thời gian qua đã góp phần thúc đẩy kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi phát triển, tạo sinh kế, tăng thu nhập, góp phần giảm nghèo và giải quyết căn bản một số nhu cầu bức xúc của người dân sinh sống trên địa bàn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Các chính sách hỗ trợ và phát triển sinh kế trong thời gian qua cũng giúp người dân xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống. Các nội dung đầu tư cơ sở hạ tầng và phát triển kinh tế địa phương đã phát huy vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ người dân sản xuất theo định hướng của thị trường.
Nhiều hạng mục công trình hạ tầng thiết yếu phục vụ dân sinh trên địa bàn đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được đầu tư xây dựng, đóng góp đáng kể vào việc thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục.
Đặc biệt, tỷ lệ giảm nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt bình quân 3,4%, cao hơn so với tỷ lệ giảm nghèo chung của cả nước, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng; trình độ dân trí, chất lượng giáo dục và nguồn nhân lực vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi ngày càng được nâng cao, góp phần phục vụ công cuộc giảm nghèo cho vùng.
Công tác hỗ trợ đào tạo nghề, hỗ trợ việc làm góp phần giải quyết việc làm ổn định cho một lực lượng lao động rất lớn trên địa bàn. Đồng bào dân tộc thiểu số nghèo được tiếp cận thuận lợi và đầy đủ hơn các chính sách hỗ trợ của Nhà nước; các chính sách an sinh xã hội được thực hiện đầy đủ, kịp thời.
Những kết quả trên đã góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với các vùng miền nói riêng và đóng góp quan trọng vào sự phát triển bền vững và thịnh vượng của đất nước nói chung, thể hiện sự nỗ lực không ngừng của cả hệ thống chính trị và đồng bào dân tộc thiểu số.
Tình hình trật tự an ninh-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi được bảo đảm; lĩnh vực quốc phòng, đối ngoại được củng cố; công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ở cơ sở ngày càng vững mạnh, góp phần xây dựng vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố, nâng cao niềm tin của đồng bào các dân tộc thiểu số đối với Đảng và Nhà nước.

Tạo động lực cho hộ nghèo, hộ cận nghèo có ý chí vươn lên thoát nghèo
- Bộ trưởng có thể thông tin rõ hơn một số kết quả, mô hình nổi bật về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hoá vùng đồng bào dân tộc thiểu số gắn với phát triển du lịch từ thực tế triển khai tại các địa phương trong thời gian qua?
Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Qua thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia dân tộc thiểu số và miền núi tại địa phương đã có nhiều cách làm hay trong gìn giữ, bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc gắn với phát triển du lịch rất ấn tượng như tại Huế, Quảng Nam (nay là Đà Nẵng)…
Nhiều sáng kiến hay trong hỗ trợ sinh kế cho người dân, như tỉnh Kon Tum (nay là tỉnh Quảng Ngãi), tỉnh Hà Giang (nay là tỉnh Tuyên Quang) có sáng kiến hay khi ban hành đề án cải tạo vườn tạp, giúp đồng bào dân tộc thiểu số thay đổi tư duy, nhận thức trong sản xuất nông nghiệp; đồng thời, tạo động lực cho hộ nghèo, hộ cận nghèo có ý chí vươn lên thoát nghèo.
- Theo Bộ trưởng, làm thế nào để phát huy hiệu quả hơn nữa các mô hình du lịch cộng đồng, sản phẩm nông nghiệp ở vùng dân tộc thiểu số trên cả nước?
Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Theo tôi, các địa phương cần lựa chọn các giá trị văn hóa dân tộc thiểu số đặc sắc của từng địa phương để phát triển sản phẩm du lịch gắn với xây dựng và bảo tồn môi trường văn hóa điểm đến; tôn trọng tính nguyên gốc, nguyên sơ, giá trị bản địa, giá trị cộng đồng; bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa tốt đẹp đồng thời với chú trọng loại bỏ những hủ tục gây cản trở phát triển kinh tế-xã hội như tảo hôn, mê tín dị đoan, lễ nghi tốn kém trong cưới hỏi, ma chay.
Cùng với đó là định hướng nhận thức phát triển du lịch cộng đồng bền vững gắn với trách nhiệm xã hội để duy trì ổn định hiệu quả kinh tế - xã hội mà người dân được hưởng lợi từ sự phát triển du lịch của địa phương, giúp người dân có điều kiện tập trung cho sản xuất và phát triển sinh kế; tổ chức quy hoạch không gian các điểm du lịch cộng đồng, trong đó, hỗ trợ bảo tồn, khôi phục văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa của các dân tộc bản địa; phát triển làng nghề gắn với giá trị văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số và miền núi để phát triển du lịch cộng đồng.
Đồng thời khuyến khích sử dụng các sản phẩm gắn với giá trị cộng đồng, có nguồn gốc địa phương, đặc sản vùng miền dựa trên các thế mạnh, lợi thế về điều kiện tự nhiên, nguồn nguyên liệu, tri thức và văn hóa bản địa để phát triển các sản phẩm sinh thái, sản phẩm hữu cơ, sản phẩm sạch phục vụ khách du lịch như: Hoạt động tắm, ngâm chân lá thuốc; các hoạt động thể thao dựa vào thiên nhiên như trekking, chèo thuyền, câu cá, đi xe đạp gắn với phát triển du lịch cộng đồng.

Ngoài ra, các địa phương cần sử dụng hiệu quả các nguồn vốn cho việc cải tạo, nâng cấp và hoàn thiện kết cấu hạ tầng giao thông, điện và nước sạch, y tế và chăm sóc sức khỏe; hệ thống chỉ dẫn, chỉ báo, hạ tầng số và kết nối viễn thông, thu gom và xử lý rác thải, nước thải; điểm đón tiếp, điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng, điểm trưng bày giới thiệu và bán các sản phẩm đặc sản của địa phương, cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, điểm dịch vụ, trải nghiệm, vui chơi giải trí công cộng,… để hỗ trợ phát triển tại các điểm du lịch cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Một số yếu tố quan trọng khác là hỗ trợ kết nối và thu hút khách du lịch; hỗ trợ, đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ để thực hiện tốt công tác tổ chức, quản lý và khai thác điểm đến; hướng dẫn, hỗ trợ cộng đồng chủ động xây dựng cơ sở dữ liệu xúc tiến du lịch, thực hiện giới thiệu, quảng bá hiệu quả sản phẩm du lịch cộng đồng tới thị trường nội địa và quốc tế; thúc đẩy ứng dụng chuyển đổi số, công nghệ thông minh, tích hợp được hình thức giao dịch thương mại điện tử trong phát triển mô hình sản phẩm du lịch cộng đồng, sản phẩm nông nghiệp đặc hữu.
Đồng thời nâng cao năng lực, nghiệp vụ cho người dân địa phương tham gia hoạt động du lịch cộng đồng; tuyên truyền vận động người dân, du khách nâng cao ý thức bảo vệ môi trường theo nguyên tắc du lịch có trách nhiệm với cộng đồng xã hội.

Thúc đẩy chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và phát triển bao trùm
- Vậy việc thống nhất tích hợp ba chương trình mục tiêu quốc gia (xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững, và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi) sẽ tác động như thế nào đến hiệu quả của việc thực hiện các chương trình này trong giai đoạn tới?
Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, việc xây dựng Chương trình tích hợp giai đoạn 2026 - 2035 là nhiệm vụ tất yếu, khách quan và cấp bách nhằm thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi nói riêng và nông thôn nói chung.
Chương trình là giải pháp chiến lược để khắc phục tình trạng phân tán, chồng chéo trong quản lý và đầu tư, tạo khuôn khổ thống nhất trong lồng ghép chính sách, huy động và phân bổ hiệu quả nguồn lực, thúc đẩy chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và phát triển bao trùm.
Chương trình được tích hợp mang đến cơ hội rất lớn cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, địa bàn trọng yếu của quốc gia theo đúng định hướng của Nghị quyết số 10/NQ-CP của Chính phủ về Chiến lược công tác dân tộc giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Cụ thể là xem đầu tư phát triển kinh tế-xã hội là nhiệm vụ quan trọng để phát triển bền vững, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi; góp phần thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số so với bình quân chung của cả nước và phải gắn liền với nhiệm vụ xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở vững mạnh
Tiếp theo là tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc chủ quyền biên giới quốc gia, xây dựng tuyến biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa và thu hút, huy động mọi nguồn lực để triển khai thực hiện hiệu quả các chương trình, dự án, chính sách liên quan đến công tác dân tộc, trong đó nguồn lực nhà nước là quan trọng và có ý nghĩa quyết định; ưu tiên đầu tư có trọng tâm, trọng điểm, tập trung cho các nhóm dân tộc còn nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù, các địa bàn khó khăn nhất của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.
Việc thực hiện tích hợp cũng bảo đảm việc đầu tư tối đa và hiệu quả nhất nguồn lực cho các mục tiêu tổng quát, mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được Quốc hội phê duyệt cho cả giai đoạn.
Ngoài ra, việc triển khai chương trình tích hợp đồng thời là công cụ thực hiện các định hướng phát triển vùng theo các Nghị quyết của Trung ương và các Chương trình hành động của Chính phủ; phù hợp với các mô hình phân bố dân cư theo từng vùng sinh thái tự nhiên và đặc điểm văn hóa, dân tộc, điều kiện kinh tế-xã hội theo định hướng Quy hoạch tổng thể quốc gia; phù hợp với việc sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị hành chính cấp xã và trình độ phát triển của các xã.
Qua đó, chương trình trở thành cầu nối chính sách và công cụ điều phối phát triển nông thôn - giảm nghèo - phát triển kinh tế-xã hội vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong tổng thể quy hoạch quốc gia; là yêu cầu cấp thiết để nâng cao thu nhập và chất lượng sống, thu hẹp chênh lệch vùng miền, củng cố an sinh xã hội, quốc phòng, an ninh, qua đó góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển đất nước nhanh, bền vững đến năm 2045.
Ngoài ra, việc thiết kế chương trình theo chu kỳ 10 năm (2026-2035) là yêu cầu tất yếu và cấp bách, nhằm thể chế hóa chủ trương của Đảng, chỉ đạo của Chính phủ về thống nhất quản lý các chương trình mục tiêu quốc gia; bảo đảm liên thông chính sách, đồng bộ nguồn lực, ổn định dài hạn, giúp địa phương chủ động lập kế hoạch trung và dài hạn, phát huy nội lực và huy động xã hội hóa.
Cả nước duy trì đà tăng trưởng, góp phần thực hiện tăng trưởng hai con số, đặc biệt trong bối cảnh đất nước ta đang bước vào giai đoạn phát triển trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình phát triển giàu mạnh, văn minh, thịnh vượng của dân tộc

Thực hiện các giải pháp về huy động vốn bảo đảm đầy đủ, kịp thời
- Từ những đánh giá trên, Bộ trưởng đề xuất để chương trình mục tiêu quốc gia chung tới đây được triển khai hiệu quả, phát huy tối đa nguồn lực?
Bộ trưởng Đào Ngọc Dung: Giải pháp quan trọng là cần rà soát, sửa đổi, hoàn thiện các cơ chế, chính sách và ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn tổ chức thực hiện chương trình theo hướng tích hợp và đồng bộ, thống nhất theo địa bàn, phù hợp với mô hình tổ chức hành chính hai cấp; tăng cường phân cấp, giao quyền chủ động cho các địa phương quy định cụ thể bảo đảm phù hợp với điều kiện thực tế và đặc thù của từng vùng, miền.
Cùng với đó là triển khai thực hiện nhanh, đồng bộ Nghị định số 255/2025/NĐ-CP của Chính phủ về xác định các dân tộc còn gặp nhiều khó khăn, có khó khăn đặc thù giai đoạn 2026 - 2030 và Nghị định số 272/2025/NĐ-CP của Chính phủ về phân định vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026-2030.
Tiếp theo là ưu tiên bố trí vốn đầu tư phát triển cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là nơi tập trung lõi nghèo nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng, miền; thực hiện đồng bộ các giải pháp về huy động vốn bảo đảm đầy đủ, kịp thời theo quy định; lồng ghép có hiệu quả các nguồn vốn từ các chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu và các dự án đầu tư khác đang triển khai trên địa bàn bảo đảm tập trung, tránh dàn trải, trùng lặp.
Căn cứ tình hình thực tế, Chính phủ sẽ tiếp tục cân đối ngân sách trung ương để ưu tiên bổ sung cho chương trình, các địa phương phải có trách nhiệm bố trí đủ vốn ngân sách địa phương để thực hiện chương trình; chấn chỉnh và có chế tài xử lý đối với những bộ, ngành trung ương và địa phương chậm tiến độ, tỷ lệ giải ngân thấp.
Đồng thời ưu tiên bố trí và cấp đủ nguồn vốn tín dụng ưu đãi thực hiện chương trình trong kế hoạch đầu tư công trung hạn vốn ngân sách nhà nước giai đoạn 2026-2030, giai đoạn 2031-2035 và hằng năm để cấp cho ngân hàng chính sách xã hội thực hiện hiệu quả tín dụng chính sách xã hội; tăng cường nguồn vốn ủy thác từ ngân sách địa phương và các tổ chức, cá nhân; đảm bảo tín dụng chính sách chiếm tỷ trọng hợp lý trong tổng nguồn lực của chương trình.
Ngoài ra khuyến khích trao quyền cho cấp xã và cộng đồng đi đôi với cơ chế giám sát, đánh giá minh bạch; phát huy vai trò chủ thể của người dân, doanh nghiệp; vận động các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, cá nhân đăng ký hỗ trợ thực hiện chương trình; khuyến khích các địa phương có điều kiện kinh tế phát triển hỗ trợ địa phương khó khăn. Chúng ta cũng cần đẩy mạnh ứng dụng chuyển đổi số, công nghệ thông tin; xây dựng bộ chỉ số, hệ thống giám sát, đánh giá trực tuyến tập trung cho toàn bộ chương trình, kết nối liên thông với các hệ thống dữ liệu ngành.
Đặc biệt là đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ và nhân dân; tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát, đánh giá việc thực hiện chương trình ở các cấp, các ngành; phối hợp chặt chẽ với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị, xã hội các cấp trong công tác giám sát, phản biện xã hội, lấy ý kiến về sự hài lòng của người dân đối.
Đồng thời kịp thời khen thưởng những tổ chức, cá nhân làm tốt và có biện pháp phòng ngừa, kịp thời ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực, lãng phí, xử lý nghiêm các vi phạm trong quá trình thực hiện chương trình./.
- Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng!

