Thủ tướng phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch 6 Vùng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn 2050

Quy hoạch 6 Vùng: Trung du và miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Hồng; vùng Bắc Trung Bộ; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long đã được phê duyệt điều chỉnh.

Ngày 04/4/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các Quyết định phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch 6 Vùng thời kỳ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 gồm: Trung du và miền núi phía Bắc; Đồng bằng sông Hồng; vùng Bắc Trung Bộ; vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên; vùng Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.

Vùng Trung du và miền núi phía Bắc: Phát triển xanh, bền vững và toàn diện

Cụ thể, tại Quyết định số 610/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 cụ thể như sau:

Phạm vi, ranh giới lập quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc bao gồm toàn bộ lãnh thổ của 9 tỉnh: Cao Bằng, Điện Biên, Lạng Sơn, Lai Châu, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang.

Quyết định đặt mục tiêu đến năm 2030, vùng Trung du và miền núi phía Bắc là vùng phát triển xanh, bền vững và toàn diện, có hệ thống kết cấu hạ tầng cơ bản đồng bộ, hiện đại, thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu, bảo đảm liên kết nội vùng, liên vùng và kết nối quốc tế hiệu quả, khẳng định vị thế của vùng là trung tâm kết nối các nước Đông Nam Á với Trung Quốc, Trung Á và châu Âu; đồng thời là một trung tâm sản xuất nông nghiệp, du lịch, công nghiệp quan trọng của cả nước.

Các địa phương trong vùng đạt mục tiêu tăng trưởng cao, một số tỉnh nằm trong nhóm các tỉnh phát triển khá của cả nước; bản sắc văn hóa các dân tộc được bảo tồn và phát huy; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao; quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc.

Quyết định số 610/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm, đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Trung du và miền núi phía Bắc, cụ thể như sau:

- Đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng phát triển kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các tiểu vùng, giữa vùng Trung du và miền núi phía Bắc với các vùng khác.

- Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại gắn với tăng cường liên kết vùng và chuyển đổi số.

- Phát triển các ngành kinh tế theo hướng kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn gắn với lợi thế và đặc thù của vùng.

- Đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực trong các lĩnh vực trọng điểm như công nghiệp công nghệ cao, năng lượng, dịch vụ du lịch, nông, lâm nghiệp, khoa học công nghệ …

- Quản lý hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

- Hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển vùng, xây dựng thể chế liên kết vùng đủ mạnh, bảo đảm hiệu quả quản trị và điều phối, liên kết phát triển vùng, tập trung vào một số lĩnh vực như quy hoạch, phát triển hạ tầng, xúc tiến đầu tư, xử lý các vấn đề môi trường nội vùng và liên vùng, phát triển các cụm liên kết ngành. Thực hiện thí điểm một số mô hình, cơ chế, chính sách mới, đặc thù nhằm thúc đẩy sự phát triển của vùng.

Vùng Đồng bằng sông Hồng: Phát triển nhanh, bền vững, cơ cấu kinh tế hợp lý, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc

Tại Quyết định số 612/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của 06 tỉnh, thành phố: Thành phố Hà Nội, thành phố Hải Phòng, các tỉnh Ninh Bình, Hưng Yên, Bắc Ninh, Quảng Ninh và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Quyết định đặt ra mục tiêu đến năm 2030, vùng Đồng bằng sông Hồng là vùng phát triển nhanh, bền vững, có cơ cấu kinh tế hợp lý, mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc; lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá, động lực chính để phát triển kinh tế - xã hội; vùng có nền công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ hiện đại, thân thiện với môi trường; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được nâng cao, dẫn đầu cả nước; là trung tâm giáo dục, đào tạo nhân lực chất lượng cao của cả nước; đi đầu về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, xã hội số; có hạ tầng đồng bộ, hiện đại, đô thị thông minh, có tính kết nối cao; hình thành mạng lưới đô thị xanh, thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu, giải quyết cơ bản ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông và ngập úng đô thị.

Thủ đô Hà Nội phát triển theo hướng "Văn hiến - Văn minh - Hiện đại", trở thành trung tâm hàng đầu về kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo, đóng vai trò động lực thúc đẩy phát triển vùng và cả nước, phấn đấu ngang tầm thủ đô các nước phát triển trong khu vực. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; đối ngoại và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Phấn đấu đến năm 2030 trở thành vùng công nghiệp hiện đại, tiệm cận mức thu nhập cao.

Quyết định số 612/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm, khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Đồng bằng sông Hồng cụ thể như sau:

- Phát triển kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, kết nối hiệu quả nội vùng, liên vùng và quốc tế, gắn với các hành lang kinh tế trọng điểm của vùng Đồng bằng sông Hồng.

- Phát triển không gian kinh tế vùng Đồng bằng sông Hồng theo hướng mở, linh hoạt, gắn với các hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và chuỗi đô thị động lực (như Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh-Bắc Ninh) và chuỗi giá trị ngành (công nghệ cao, công nghiệp điện tử, ô tô, chip bán dẫn, logistics, nông nghiệp công nghệ cao, du lịch văn hóa…), liên kết vùng, quốc gia và quốc tế.

- Đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa, phát triển hệ thống đô thị vùng Đồng bằng sông Hồng hiện đại, bền vững, có khả năng cạnh tranh quốc tế, đóng vai trò trung tâm trong mạng lưới đô thị quốc gia; kinh tế đô thị trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng vùng.

- Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hình thành hệ sinh thái khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo làm nền tảng cho tăng trưởng nhanh, bền vững.

- Tập trung bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa của nền văn minh sông Hồng làm nền tảng tinh thần cho phát triển bền vững và hình thành công nghiệp văn hóa trở thành động lực tăng trưởng mới của vùng.

- Tập trung hoàn thiện thể chế điều phối và cơ chế liên kết phát triển vùng nhằm bảo đảm phát triển thống nhất, đồng bộ và hiệu quả.

- Tăng cường năng lực hội nhập và kết nối quốc tế, tập trung phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực quan trọng, làm nền tảng tăng trưởng nhanh, bền vững.

Vùng Bắc Trung Bộ: Phát triển nhanh, năng động, bền vững, mạnh về kinh tế biển

Khu kinh tế Vũng Áng hiện có nhiều nhà máy sản xuất công nghiệp quy mô lớn đã đi vào hoạt động. (Ảnh: Hữu Quyết/TTXVN)

Tại Quyết định số 613/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của 5 tỉnh, thành phố: Thành phố Huế, các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Trị và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Quyết định đặt mục tiêu đến năm 2030, Bắc Trung Bộ là vùng phát triển nhanh, năng động, bền vững, mạnh về kinh tế biển, phấn đấu mức thu nhập bình quân đầu người của vùng đạt mức trung bình cao, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực tăng trưởng chủ yếu, có kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, có khả năng chống chịu cao với thiên tai và thích ứng hiệu quả với biến đổi khí hậu.

Phát triển một số trung tâm công nghiệp, dịch vụ lớn của cả nước, các khu kinh tế ven biển và hệ thống đô thị ven biển đạt chuẩn quốc gia và khu vực, trung tâm kinh tế biển mạnh có tầm khu vực và quốc tế; các giá trị văn hóa, lịch sử và hệ sinh thái biển, đảo, rừng được bảo tồn và phát huy; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được nâng cao; quốc phòng, an ninh và chủ quyền biển, đảo được bảo đảm vững chắc.

Quyết định số 613/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Bắc Trung Bộ, cụ thể như sau:

- Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thông minh, tập trung vào hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng đô thị, hạ tầng xã hội, hạ tầng thủy lợi, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu.

- Đẩy mạnh cơ cấu lại kinh tế của vùng gắn với xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, ưu tiên phát triển một số ngành, lĩnh vực có tiềm năng, lợi thế và còn dư địa lớn, phù hợp với xu thế chung của thế giới và gắn với không gian phát triển mới.

- Xây dựng khu vực ven biển Thanh Hóa-Nghệ An-Hà Tĩnh trở thành trung tâm phát triển công nghiệp của vùng và cả nước, trở thành vùng động lực quốc gia.

- Phát triển các hành lang kinh tế theo trục Bắc-Nam, các hành lang kinh tế Đông-Tây nhằm kết nối hiệu quả các cảng biển, khu kinh tế, cảng hàng không, cửa khẩu quốc tế, đầu mối giao thương lớn, các đô thị ven biển, trung tâm kinh tế, cực tăng trưởng.

- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả liên kết nội vùng, liên vùng để bảo đảm sử dụng hiệu quả các nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh của vùng; đẩy mạnh liên kết giữa các địa phương liền kề trong vùng, khai thác hiệu quả không gian phát triển mới sau sáp nhập, sắp xếp đơn vị hành chính các cấp.

Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: Phát triển nhanh, bền vững; phát huy mạnh mẽ liên kết biển-cao nguyên-biên giới

Tại Quyết định số 614/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cụ thể:

Phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của 06 tỉnh, thành phố: Thành phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Ngãi, Gia Lai, Đắk Lắk, Khánh Hòa, Lâm Đồng và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Mục tiêu đến năm 2030, vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên là vùng phát triển nhanh, bền vững; phát huy mạnh mẽ liên kết biển - cao nguyên - biên giới; có cơ cấu kinh tế hợp lý, từng bước hiện đại, là điểm đến hấp dẫn về du lịch biển, đảo, sinh thái và văn hóa.

Hình thành nguồn nhân lực có chất lượng, kỹ năng và khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, năng lượng, logistics, nông nghiệp công nghệ cao và kinh tế số.

Một số địa phương trong vùng thuộc nhóm dẫn đầu cả nước về một số lĩnh vực như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, du lịch, logistics, dịch vụ tài chính. Hệ thống kết cấu hạ tầng chủ yếu, nhất là giao thông, năng lượng, đô thị, hạ tầng số, hạ tầng phòng, chống thiên tai từng bước đồng bộ, hiện đại, kết nối Bắc-Nam và Đông-Tây.

Hệ sinh thái rừng, an ninh nguồn nước, quốc phòng, an ninh được bảo đảm; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được cải thiện.

Quyết định số 614/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, cụ thể như sau:

- Tập trung hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách đặc thù và mô hình quản trị vùng hiệu quả, nâng cao năng lực điều phối, năng lực cạnh tranh cấp vùng, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng quy hoạch và khả năng tiếp cận đất đai, tăng cường xúc tiến đầu tư và thu hút các nguồn lực phát triển, trong đó kinh tế tư nhân trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của vùng.

- Đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh.

- Ưu tiên phát triển đồng bộ và hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng nội vùng, liên vùng, nhất là các công trình giao thông theo hướng Đông - Tây, gắn với khai thác hiệu quả không gian phát triển mới.

- Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhu cầu của thị trường.

- Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hóa, lịch sử, bản sắc và vốn sinh thái nhân văn của vùng.

Vùng Đông Nam Bộ: Văn minh, hiện đại, công nghiệp phát triển, vượt qua ngưỡng thu nhập cao

Một góc Thành phố Hồ Chí Minh. (Nguồn: TTXVN)

Tại Quyết định số 615/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng Đông Nam Bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Đông Nam Bộ bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của các tỉnh, thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Tây Ninh và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Đặt mục tiêu đến năm 2030, Đông Nam Bộ trở thành vùng văn minh, hiện đại, công nghiệp phát triển, vượt qua ngưỡng thu nhập cao; là vùng động lực tăng trưởng lớn nhất cả nước, phát triển năng động, tốc độ tăng trưởng cao; trung tâm khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp công nghệ số, logistics và trung tâm tài chính quốc tế có tính cạnh tranh cao trong khu vực.

Đi đầu trong xác lập mô hình tăng trưởng mới, chuyển đổi số, phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục, đào tạo, y tế, phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, phát thải các-bon thấp, thích ứng với biến đổi khí hậu. Phát triển nhanh hệ thống đô thị xanh, thông minh, hiện đại.

Phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, cơ bản đáp ứng yêu cầu tăng trưởng đột phá và liên kết phát triển. Phát huy tốt vai trò đầu mối của quốc gia về giao thương, hội nhập khu vực và thế giới, góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam.

Tình trạng ô nhiễm môi trường, tắc nghẽn giao thông và ngập úng cơ bản được giải quyết. Đời sống vật chất, tinh thần và hạnh phúc của người dân không ngừng được nâng lên. Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm vững chắc.

Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố văn minh, hiện đại, năng động sáng tạo, là nơi thu hút nhân tài, chuyên gia, nhà khoa học đến sinh sống và làm việc, đóng vai trò là cực tăng trưởng của vùng; đầu tàu về kinh tế số, xã hội số, trung tâm kinh tế, tài chính, thương mại, văn hoá, giáo dục, khoa học, công nghệ của cả nước; trung tâm tài chính quốc tế, nơi tập trung của các định chế tài chính quốc tế, các tập đoàn kinh tế lớn của thế giới; có vị thế nổi trội trong khu vực Đông Nam Á và phát triển ngang tầm các thành phố lớn trong khu vực châu Á.

Quyết định số 615/QĐ-TTg đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm và các khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Đông Nam Bộ, cụ thể như sau:

- Xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại kinh tế vùng, tạo đột phá nâng cao năng suất dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

- Hình thành cơ bản bộ khung kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, thông minh, tập trung vào hạ tầng giao thông, hạ tầng đô thị, hạ tầng năng lượng, hạ tầng số, hạ tầng xã hội, hạ tầng thủy lợi, phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu và hạ tầng bảo vệ môi trường.

- Tập trung phát triển vùng động lực phía Nam (vùng động lực quốc gia) trở thành trung tâm kinh tế hàng đầu của cả nước và khu vực Đông Nam Á.

- Hình thành và phát triển các hành lang kinh tế, trong đó ưu tiên hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang kinh tế Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu và các vành đai công nghiệp - đô thị - dịch vụ gắn với đường vành đai 3, vành đai 4 Thành phố Hồ Chí Minh.

- Tăng cường liên kết nội vùng, liên vùng, phát triển vùng theo hướng đa trung tâm phù hợp với tiềm năng, lợi thế của từng khu vực.

Vùng Đồng bằng sông Cửu Long: Trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới

Tại Quyết định số 616/QĐ-TTg, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Điều chỉnh Quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Cụ thể như sau:

Phạm vi, ranh giới lập điều chỉnh quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long bao gồm toàn bộ lãnh thổ đất liền của 05 tỉnh, thành phố: Cần Thơ, An Giang, Đồng Tháp, Cà Mau và Vĩnh Long; và phần không gian biển, đảo được xác định theo các quy định của pháp luật có liên quan.

Sông Cần Thơ đổ ra sông Hậu tại bến Ninh Kiều. (Ảnh: Thanh Liêm/TTXVN)

Mục tiêu phát triển vùng Đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030 trở thành trung tâm kinh tế nông nghiệp bền vững, năng động và hiệu quả cao của quốc gia, khu vực và thế giới trên cơ sở phát triển hệ thống các trung tâm đầu mối về nông nghiệp, các hành lang kinh tế và các đô thị động lực tập trung các dịch vụ và công nghiệp đa dạng với hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, thích ứng với biến đổi khí hậu; phát triển kinh tế biển; kinh tế du lịch.

Tăng cường kết nối nội vùng, liên vùng, trong nước và quốc tế; chú trọng phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; tạo dựng môi trường sống bền vững, chất lượng sống tốt cho người dân gắn với bảo tồn các tài nguyên, hệ sinh thái; duy trì và tôn tạo bản sắc văn hóa độc đáo, đa dạng của các dân tộc; bảo đảm ổn định chính trị, quốc phòng và an ninh.

Quyết định số 616/QĐ-TTg cũng đưa ra các nhiệm vụ trọng tâm và khâu đột phá trong thời kỳ quy hoạch vùng Đồng bằng sông Cửu Long, cụ thể như sau:

- Xây dựng cơ chế và tăng cường các hoạt động điều phối vùng, thúc đẩy thực thi hiệu quả quy hoạch vùng trên không gian liên tỉnh trong các ngành, lĩnh vực chủ yếu.

- Tập trung hoàn thiện hạ tầng theo hành lang Bắc-Nam (phía Đông và phía Tây) tăng cường các phương thức kết nối giữa các trung tâm của vùng với Thành phố Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ.

- Tập trung phát triển các trung tâm tổng hợp, chuyên ngành, hình thành các hành lang đô thị-dịch vụ-công nghiệp, liên kết và hỗ trợ các chức năng theo quy mô vùng.

- Ưu tiên các cơ chế chính sách thu hút nguồn lực đầu tư cho các địa bàn thuận lợi về vị trí, hạ tầng kết nối, có lợi thế về điều kiện tự nhiên và nhân lực.

Ưu tiên đào tạo nhân lực chất lượng cao gắn với nhu cầu thị trường lao động, tập trung vào các ngành, lĩnh vực trọng điểm của vùng.

Các Quyết định nêu trên có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký ban hành (04/4/2026)./.

(Vietnam+)