Thị trường rộng mở, nông sản hữu cơ nỗ lực tìm chỗ đứng

Thị trường nông sản hữu cơ trên thế giới đang tăng trưởng mạnh khi các sản phẩm an toàn và thân thiện với môi trường được quan tâm, tại Việt Nam, xu hướng này cũng đang được nhiều địa phương thúc đẩy.

Xu hướng tiêu dùng xanh đang mở ra dư địa lớn cho nông sản hữu cơ. Tuy nhiên, sản xuất còn phân tán, thiếu chuỗi cung ứng và minh bạch tiêu chuẩn khiến sản phẩm hữu cơ vẫn loay hoay tạo dựng niềm tin, tìm chỗ đứng trên thị trường.

Thị trường nông sản hữu cơ trên thế giới đang tăng trưởng mạnh khi người tiêu dùng ngày càng quan tâm tới các sản phẩm an toàn và thân thiện với môi trường. Theo thống kê, quy mô thị trường hữu cơ toàn cầu hiện đã vượt 135 tỷ Euro và tiếp tục mở rộng trong những năm gần đây.

Tại Việt Nam, xu hướng phát triển nông nghiệp hữu cơ cũng đang được nhiều địa phương quan tâm thúc đẩy. Không chỉ hướng tới tạo ra sản phẩm an toàn, chất lượng cao, mô hình sản xuất này còn giúp nâng cao giá trị nông sản, có thể cao gấp 1,5-2 lần so với phương thức canh tác thông thường, đồng thời góp phần bảo vệ hệ sinh thái và phát triển nông nghiệp tuần hoàn.

Tuy nhiên, quy mô sản xuất hữu cơ của Việt Nam vẫn còn khá khiêm tốn. Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho biết, đến năm 2025 cả nước có khoảng 174.000 ha sản xuất nông nghiệp hữu cơ, chiếm khoảng 1,4% tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp.

Đến năm 2025 cả nước có khoảng 174.000 ha sản xuất nông nghiệp hữu cơ. (Ảnh minh họa: Hương Thu/TTXVN)

Mặc dù diện tích này đã tăng khoảng 47% so với năm 2016, đưa Việt Nam vào nhóm 10 quốc gia có tốc độ tăng trưởng diện tích hữu cơ nhanh nhất thế giới, nhưng vẫn chỉ tương đương khoảng 0,18% diện tích hữu cơ toàn cầu.

Không chỉ quy mô còn nhỏ, sản xuất hữu cơ ở Việt Nam chủ yếu vẫn mang tính phân tán, nhỏ lẻ, chưa hình thành được các vùng sản xuất tập trung đủ lớn để xây dựng chuỗi cung ứng ổn định. Điều này khiến hệ thống phân phối và tiêu thụ sản phẩm hữu cơ còn nhiều hạn chế.

Trong nhiều trường hợp, sản phẩm được sản xuất theo tiêu chuẩn cao nhưng khi ra thị trường lại chưa có sự khác biệt rõ rệt về giá trị hay kênh tiêu thụ so với sản phẩm thông thường.

Câu chuyện của gia đình ông Nguyễn Văn Luận, thành viên Hợp tác xã Nông nghiệp hữu cơ Bình Phước là một ví dụ cho sự kiên trì chuyển đổi sang sản xuất hữu cơ.

Để có gần 3 ha hồ tiêu đạt chứng nhận hữu cơ châu Âu, gia đình ông đã mất 5 năm chuyển đổi từ canh tác truyền thống sang sản xuất an toàn, sau đó tiếp tục thêm 3 năm nữa để hoàn thiện các tiêu chuẩn hữu cơ.

Nhờ tuân thủ nghiêm ngặt quy trình sản xuất và đáp ứng yêu cầu phân tích hơn 900 hoạt chất theo chuẩn châu Âu, sản phẩm hồ tiêu của gia đình hiện có giá bán cao hơn thị trường từ 25-40%, trong khi chi phí sản xuất giảm đáng kể.

Tuy nhiên, không phải mô hình hữu cơ nào cũng đạt được kết quả thuận lợi như vậy. Sau 5 năm trồng nông sản theo hướng hữu cơ và đã được cấp chứng nhận, anh Nguyễn Văn Thành, Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Thành Vinh (Nghệ An) cho biết, sản phẩm của hợp tác xã vẫn chủ yếu tiêu thụ tại các chợ đầu mối truyền thống với mức giá gần như không khác biệt so với sản phẩm thông thường.

Theo anh Thành, thị trường hiện nay vẫn chưa có “sân chơi” rõ ràng cho sản phẩm hữu cơ, trong khi nhiều người tiêu dùng chưa có thói quen trả thêm tiền cho các sản phẩm chất lượng cao.

Thực tế này cũng cho thấy niềm tin của người tiêu dùng đang trở thành yếu tố then chốt đối với sự phát triển của thị trường hữu cơ. Những vụ việc như rau không rõ nguồn gốc nhưng gắn mác VietGAP từng xuất hiện trên thị trường đã khiến không ít người tiêu dùng lo ngại về tính minh bạch của các sản phẩm được quảng bá là an toàn hoặc hữu cơ.

“Gần đây, sự việc rau không rõ nguồn gốc gắn mác VietGAP càng khiến người tiêu dùng lo ngại về các sản phẩm gắn mác hữu cơ,” chị Phan Ngọc Linh, một người tiêu dùng tại Hà Nội chia sẻ.Không chỉ người tiêu dùng, ngay trong sản xuất cũng tồn tại nhiều nhầm lẫn về khái niệm nông nghiệp hữu cơ. Nhiều người vẫn chưa phân biệt rõ giữa sản phẩm được sản xuất theo nguyên tắc hữu cơ và sản phẩm đạt chứng nhận hữu cơ theo tiêu chuẩn.

Trên thực tế, việc sử dụng phân bón hữu cơ hoặc canh tác theo phương thức tự nhiên chưa đồng nghĩa với việc sản phẩm đạt chuẩn hữu cơ. Theo quy định hiện hành, sản phẩm hữu cơ phải đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và được tổ chức chứng nhận cấp chứng chỉ theo Nghị định 109/2018/NĐ-CP về nông nghiệp hữu cơ.

Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Trần Thanh Nam cho rằng cần phải rạch ròi giữa “sản phẩm đạt tiêu chuẩn hữu cơ” và “sản phẩm sản xuất theo nguyên tắc hữu cơ.” Sự đánh đồng trong khái niệm không chỉ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng mà còn có thể dẫn tới sai lệch trong thống kê và đánh giá thực trạng phát triển nông nghiệp hữu cơ tại các địa phương.

Tại một số địa phương, việc mở rộng sản xuất theo hướng hữu cơ đang được thúc đẩy. Chẳng hạn, tại Ninh Bình đến hết năm 2024 đã có 26 ha được cấp chứng nhận hữu cơ, chủ yếu với các cây dược liệu như trà hoa vàng, giảo cổ lam, sâm Cúc Phương và cà gai leo. Ngoài ra, hơn 5.000 ha lúa và khoảng 700 ha rau màu cũng đang được sản xuất theo hướng hữu cơ.

Thời gian tới, tỉnh định hướng mở rộng các vùng sản xuất tập trung, hỗ trợ xây dựng thương hiệu và gắn nông nghiệp với du lịch trải nghiệm để quảng bá sản phẩm đặc trưng.

Tuy vậy, theo ông Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, hiện vẫn chưa hình thành được các chuỗi cung ứng chuyên kinh doanh sản phẩm thuần hữu cơ do nguồn cung chưa đủ lớn và chưa ổn định quanh năm. Việc tiêu thụ vì thế còn mang tính “phập phù,” chưa xây dựng được tệp khách hàng trung thành.

Ở góc độ khuyến nông, ông Lê Quốc Thanh, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, nông nghiệp hữu cơ có dấu hiệu phát triển theo xu hướng thị trường hơn là dựa trên giá trị thực chất. Vì vậy, cần rà soát lại hệ thống tiêu chuẩn và định dạng rõ các cấp độ sản xuất hữu cơ để tránh tình trạng gọi chung gây nhầm lẫn.

Các chuyên gia cho rằng để sản phẩm hữu cơ có chỗ đứng vững chắc trên thị trường, cần xây dựng đồng bộ nhiều nền tảng, từ hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc đến phát triển các vùng sản xuất quy mô lớn để đảm bảo nguồn cung ổn định.

Đồng thời, việc đầu tư công nghệ chế biến, hệ thống bảo quản, đóng gói, phân phối và tăng cường truyền thông về giá trị của nông nghiệp hữu cơ cũng đóng vai trò quan trọng.

Chỉ khi tiêu chuẩn được xác lập rõ ràng, chuỗi giá trị được hình thành và niềm tin của người tiêu dùng được củng cố, nông nghiệp hữu cơ mới có thể phát triển bền vững và thực sự trở thành một hướng đi nâng cao giá trị cho nông sản Việt Nam./.

(TTXVN/Vietnam+)