Thị trường carbon Việt Nam cần lực kéo để tạo thanh khoản

Sàn giao dịch carbon trong nước đã vận hành hơn 2 tháng nhưng mới chỉ ghi nhận 7 giao dịch với 1.310 hạn ngạch, cho thấy thách thức lớn nhất hiện nay là tạo nhu cầu mua bán thực chất.

Sàn giao dịch carbon trong nước đã chính thức vận hành, nhưng thanh khoản vẫn thấp khi nhu cầu mua bán chưa đủ lớn. Bài toán hiện nay không chỉ là có sàn, mà là tạo lực kéo để doanh nghiệp thực sự tham gia giao dịch.

Ngày 29/6/2026, sàn giao dịch carbon trong nước chính thức vận hành trên nền tảng của Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX), đánh dấu bước chuyển từ giai đoạn chuẩn bị sang vận hành thử nghiệm thị trường carbon trong nước.

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Nông nghiệp và Môi trường ngày 16/9, Phó Cục trưởng điều hành Cục Biến đổi khí hậu Nguyễn Tuấn Quang cho biết, sau hơn 2 tháng vận hành, sàn ghi nhận 7 giao dịch với tổng cộng 1.310 hạn ngạch được giao dịch.

Trong khi đó, ông Nguyễn Tuấn Anh, Phó Tổng giám đốc HNX cho biết, hơn 510 triệu tấn hạn ngạch đã được đăng ký; Hệ thống đăng ký quốc gia có 92 tổ chức tham gia, chủ yếu thuộc các ngành thép, xi măng và nhiệt điện.

Như vậy, khoảng cách giữa quy mô hàng hóa đăng ký và lượng giao dịch thực tế cho thấy có sàn và có hàng hóa chưa đủ để tạo thanh khoản.

Theo ông Nguyễn Tuấn Anh, HNX hướng tới vận hành thị trường an toàn, ổn định, thông suốt, đồng thời tiếp tục hoàn thiện hệ thống và bổ sung kênh giao dịch trực tuyến để tạo điều kiện hình thành nhu cầu thực tế.

Để hình thành giá và thanh khoản, thị trường cần lực kéo từ phía doanh nghiệp; trong đó có mức độ khan hiếm của hạn ngạch và chi phí phát thải mà doanh nghiệp phải đối mặt.

Tiến sỹ Lê Xuân Nghĩa, Viện trưởng Viện Tư vấn và Phát triển (CODE), Ủy viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ Quốc gia cho rằng, giá carbon khoảng 147 USD/tấn có thể tạo tác động đáng kể tới quyết định của doanh nghiệp.

Khi chi phí phát thải đủ lớn, doanh nghiệp sẽ phải cân nhắc giữa mua quyền phát thải và đầu tư các giải pháp giảm phát thải.

Bên cạnh hạn ngạch, tín chỉ carbon là nguồn hàng hóa quan trọng của thị trường. Theo quy định, tín chỉ được phép giao dịch phải phát sinh từ ngày 1/1/2021 trở đi và thuộc các cơ chế được quy định; trong đó có cơ chế theo Điều 6.2, Điều 6.4 của Thỏa thuận Paris và các cơ chế tín chỉ carbon trong nước.

Nguồn cung tín chỉ có thể hình thành từ nhiều hoạt động giảm phát thải tại doanh nghiệp như xử lý, tái tuần hoàn chất thải, giảm phát sinh khí metan từ bãi chôn lấp hoặc tận dụng phụ phẩm làm nguyên liệu đầu vào, nếu đáp ứng yêu cầu đo đếm theo tiêu chuẩn.

Tuy nhiên, nguồn cung tiềm năng chưa đồng nghĩa với nguồn cung có thể giao dịch ngay.

Theo bà Phạm Liên Anh, đại diện IFC (Tổ chức Tài chính Quốc tế), nhiều doanh nghiệp đã đầu tư tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải nhưng chưa xác định đầy đủ tiềm năng tạo tín chỉ carbon. Trong khi đó, năng lực đo đạc, báo cáo, thẩm định và xác minh kết quả giảm phát thải (MRV) vẫn đang trong giai đoạn hình thành.

Theo ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Khối Ngân hàng Đầu tư, Công ty cổ phần Chứng khoán An Bình, thanh khoản thấp trong giai đoạn đầu là điều có thể dự báo đối với một thị trường mới. Số lượng tín chỉ đủ điều kiện còn hạn chế, việc chuẩn hóa chưa thực hiện trên quy mô lớn, trong khi cung cầu chưa kết nối chặt chẽ.

Ông Minh cho rằng doanh nghiệp hiện chưa xem thị trường carbon là kênh tài chính quan trọng; năng lực tư vấn trong nước còn hạn chế, trong khi chi phí thuê chuyên gia nước ngoài cao.

Các tiêu chuẩn kỹ thuật về thẩm định, chứng nhận và đưa tín chỉ lên thị trường cần tiếp tục hoàn thiện. Theo ông Minh, cần có thời gian thí điểm đủ dài, cơ chế khuyến khích để thu hút thành viên và phát triển đội ngũ tư vấn trong nước.

Một lực kéo khác đến từ thị trường quốc tế. Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu đang tạo thêm áp lực đối với các doanh nghiệp xuất khẩu phát thải lớn.

Theo bà Phạm Liên Anh, chi phí tuân thủ CBAM hiện khoảng 75 euro/tấn CO2 tương đương. Nếu các cơ chế quốc tế cho phép sử dụng một phần tín chỉ carbon để bù trừ nghĩa vụ, nhu cầu đối với tín chỉ đạt chuẩn có thể tăng thêm.

Sức ép xanh hóa cũng lan sang các ngành sản xuất phục vụ xuất khẩu. Dệt may là một ví dụ. Dù chưa nằm trong nhóm 110 cơ sở đầu tiên được phân bổ hạn ngạch, nhiều doanh nghiệp trong ngành đã phải chuyển sang sử dụng năng lượng sạch và điện mặt trời mái nhà theo yêu cầu của các nhãn hàng quốc tế nhằm duy trì đơn hàng.

Trong bối cảnh đó, thị trường carbon không chỉ là câu chuyện tuân thủ môi trường mà đang trở thành một phần của năng lực cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu.

Trong khi đó, giá tín chỉ carbon trong nước hiện chưa có mức sàn, trần hay biên độ cố định mà hình thành thông qua thỏa thuận giữa bên mua và bên bán, dựa trên chất lượng, nguồn gốc và đặc tính. Điều này đặt ra yêu cầu minh bạch thông tin để thị trường hình thành mặt bằng giá phù hợp.

Từ góc độ tài chính, thị trường carbon cũng được Bộ Tài chính xác định là một cấu phần của hệ sinh thái tài chính xanh, cùng với trái phiếu xanh, tín dụng xanh, bảo hiểm và các tiêu chuẩn ESG.

Sàn giao dịch carbon đã có, hàng hóa từng bước hình thành, nhưng để thị trường vận hành thực chất vẫn cần nhu cầu tuân thủ, tín hiệu giá và áp lực giảm phát thải.

Ngắn hạn, thanh khoản thấp là đặc điểm của thị trường mới. Về dài hạn, hiệu quả phụ thuộc vào nhu cầu mua bán thực tế của doanh nghiệp.

Khi chi phí carbon trở thành yếu tố trong quyết định sản xuất, đầu tư và xuất khẩu, hạn ngạch và tín chỉ sẽ được giao dịch thường xuyên hơn, thúc đẩy doanh nghiệp cân nhắc giữa mua quyền phát thải và đầu tư giảm phát thải./.

(TTXVN/Vietnam+)