Thế kẹt chiến lược của Israel tại Syria

Ngày 18/8, Israel đã tấn công đường băng và các cơ sở kho chứa tại căn cứ không quân Abu al-Duhur ở tỉnh Idlib của Syria, cách biên giới Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 60 km.

Báo “Jerusalem Post” có bài phân tích về các diễn biến căng thẳng giữa Israel và Thổ Nhĩ Kỳ thời gian gần đây, trong đó nhận định, Thổ Nhĩ Kỳ đang tìm cách củng cố vị thế của mình ở Syria vì lý do chiến lược và kinh tế, nhưng tham vọng về mặt ý thức hệ và lịch sử của Tổng thống Thổ Nhĩ Kỳ Recep Tayyip Erdogan đang đẩy nước này vào thế đối đầu với Israel.

Mô hình thỏa hiệp Israel-Nga

Ngày 30/9/2015, Israel thức tỉnh trước một thực tế Trung Đông hoàn toàn thay đổi: máy bay chiến đấu Nga sải cánh trên bầu trời Homs của Syria, thực hiện các cuộc không kích đầu tiên của Moscow ở Trung Đông kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.

Tổng thống Vladimir Putin đã đến để cứu vãn đồng minh chủ chốt của Nga ở Trung Đông là Tổng thống Syria Bashar al-Assad.

Chín ngày trước đó, vào ngày 21/9, Thủ tướng Benjamin Netanyahu – người nắm được thông tin tình báo về kế hoạch của Nga – đã bay tới Moscow trong một chuyến thăm chớp nhoáng.

Tại đó, Netanyahu và Putin đã thảo luận về việc thiết lập một cơ chế giảm thiểu xung đột để ngăn chặn các phi công Israel và Nga vô tình chạm trán nhau trên không phận Syria.

Cơ chế này đã hoạt động trong gần một thập kỷ, cho đến khi Assad bị lật đổ vào tháng 12/2024 bởi lực lượng do Tổng thống Syria hiện tại Ahmed al-Sharaa lãnh đạo.

Biện pháp này phát huy hiệu quả phần lớn là do Israel và Nga đạt được sự hiểu biết không chính thức: Mỗi bên đều có lợi ích riêng ở Syria. Israel sẽ không can thiệp vào lợi ích của Nga, và Nga sẽ cho phép Israel bảo vệ lợi ích của chính mình. Những lợi ích đó rất rõ ràng.

Nga muốn duy trì vị thế khu vực của mình bằng cách giữ cho Assad nắm quyền; Israel muốn ngăn chặn Iran và Hezbollah củng cố vị thế ở Syria.

Moscow sẽ không can thiệp vào các hành động của Israel miễn là chúng không đe dọa đến sự cai trị của Assad, và Israel sẽ không nhắm mục tiêu vào chế độ của ông ta miễn là Israel vẫn giữ được quyền tự do hành động chống lại Iran và Hezbollah.

Và chiến lược đó đã thành công. Israel đã thực hiện hàng trăm cuộc tấn công ở Syria mà không trực tiếp đối đầu hay gây tổn hại nghiêm trọng đến sự hiện diện quân sự rộng lớn của Nga tại đó.

Tình hình hiện nay

Ngày 18/8, Israel đã tấn công đường băng và các cơ sở kho chứa tại căn cứ không quân Abu al-Duhur ở tỉnh Idlib của Syria, cách biên giới Thổ Nhĩ Kỳ khoảng 60 km.

Israel tin rằng căn cứ này đang được chuẩn bị cho lực lượng Thổ Nhĩ Kỳ, và một phái đoàn quân sự từ Thổ Nhĩ Kỳ đã đến thăm địa điểm này chỉ vài giờ trước cuộc tấn công.

Thủ tướng Netanyahu đã giải thích lý do tiến hành cuộc tấn công: “Chúng tôi sẽ không dung thứ cho việc Thổ Nhĩ Kỳ tăng cường lực lượng quân sự về phía Nam. Chúng tôi đã truyền đạt điều đó bằng mọi cách có thể.”

Xét thái độ thù địch không khoan nhượng của Thổ Nhĩ Kỳ đối với Israel cả bằng lời nói lẫn hành động, lập trường của Thủ tướng Netanyahu là điều dễ hiểu.

Thổ Nhĩ Kỳ là nơi trú ẩn của Hamas và là quốc gia dẫn đầu các động thái ngoại giao chống lại Israel. Tổng thống Recep Tayyip Erdogan đã dành nhiều năm để đưa ra những lời lẽ chống Israel gay gắt.

Cũng trong ngày 18/8, Văn phòng Thủ tướng Netanyahu cảnh báo, Israel và Syria đã nhất trí về một hiện trạng an ninh mà Damascus sắp phá vỡ bằng cách cho phép Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ triển khai tại Abu al-Duhur.

Động thái trên cho thấy một thỏa thuận ngầm nào đó đã được thiết lập giữa Israel và Syria về những gì được phép và không được phép. Theo quan điểm của Israel, việc điều động Quân đội Thổ Nhĩ Kỳ – và có thể cả các hệ thống radar và phòng không hiện đại – vào căn cứ không quân Abu al-Duhur đã vi phạm những thỏa thuận đó.

Do đó, cuộc tấn công mang theo hai thông điệp: một gửi đến Syria, cảnh báo nước này phải tôn trọng các thỏa thuận trước đó; và một gửi đến Thổ Nhĩ Kỳ, làm rõ rằng Israel có những “lằn ranh đỏ.”

Khả năng triển khai mô hình giảm xung đột Israel-Thổ Nhĩ Kỳ

Nhưng liệu cơ chế giảm thiểu xung đột mà Netanyahu thiết lập với Putin có thể được áp dụng tương tự với Thổ Nhĩ Kỳ của Erdogan hay không? Trên lý thuyết, lập luận này hoàn toàn hợp lý.

Cả hai bên đều có lợi ích thiết yếu trong việc tránh một cuộc chiến tranh ngoài ý muốn. Nhưng có những khác biệt rất lớn giữa nước Nga của Putin năm 2015 và Thổ Nhĩ Kỳ của Erdogan năm 2026. Putin không can thiệp vào Syria để làm hại Israel.

Ông ta đến để bảo vệ lợi ích của Nga: Cứu Assad, duy trì vị thế của Moscow ở Địa Trung Hải, thể hiện tầm ảnh hưởng toàn cầu của Nga và ngăn chặn các lực lượng Hồi giáo cực đoan kiểm soát Syria, từ đó tránh nguy cơ làm gia tăng các mối đe dọa thánh chiến ở khu vực Bắc Caucasus của Nga.

Mục đích trước mắt của Erdogan trong việc củng cố vị thế của Thổ Nhĩ Kỳ ở Syria có thể không phải là tấn công Israel. Ông ta muốn bảo vệ biên giới phía Nam của Thổ Nhĩ Kỳ, kiềm chế quyền lực của người Kurd, định hình nhà nước Syria mới, mở rộng ảnh hưởng khu vực của Ankara và kiếm hàng tỷ USD từ việc tái thiết cơ sở hạ tầng của Syria.

Nhưng không giống như Putin, Erdogan có những tham vọng về ý thức hệ và lịch sử khiến Thổ Nhĩ Kỳ có nguy cơ đối đầu với Israel. Putin hành động ở Syria với sự tính toán lạnh lùng của một chiến lược gia toàn cầu.

Ông không có lợi ích ý thức hệ lớn nào trong cuộc xung đột Arab-Israel. Nước Nga của ông không phải là Liên Xô dưới thời Leonid Brezhnev.

Khi máy bay chiến đấu Israel xâm phạm không phận Syria, Putin nhìn nhận vấn đề một cách thực dụng: Chừng nào các mục tiêu của Nga không bị tấn công và Tổng thống Assad không gặp nguy hiểm, thì cuộc chiến của Israel chống lại các lực lượng ủy nhiệm của Iran không phải là việc của ông ta.

Thổ Nhĩ Kỳ dưới thời Erdogan thì khác. Ankara coi Syria như "sân sau" của mình, và thế giới quan của Erdogan được định hình bởi sự đồng cảm với Tổ chức Anh em Hồi giáo và tham vọng khôi phục đế chế Ottoman.

Trong khi Putin hài lòng với việc bảo toàn vùng lãnh thổ ven biển của Nga xung quanh Tartus và Latakia và duy trì quyền lực của Assad, Erdogan lại tự coi mình là người bảo trợ và bảo vệ chính của nhà nước Syria mới do al-Sharaa lãnh đạo.

Ông Erdogan cũng không hề giấu giếm mong muốn thể hiện sức mạnh của Thổ Nhĩ Kỳ và dòng Sunni trên khắp khu vực. Hiệp ước quốc phòng mới với Saudi Arabia và Pakistan là biểu hiện mới nhất cho tầm ảnh hưởng chiến lược ngày càng tăng của Thổ Nhĩ Kỳ.

Tuy nhiên, bất chấp những lời lẽ độc hại, nguy cơ xảy ra chiến tranh ngoài ý muốn đồng nghĩa với việc cả hai bên có thể không còn lựa chọn nào khác ngoài việc thiết lập một cơ chế giảm xung đột.

Và lần này có thêm một bên tham gia khác, vốn ít đóng vai trò trung tâm hơn khi Israel và Nga đạt được thỏa thuận vào năm 2015: Washington. Israel và Thổ Nhĩ Kỳ, một thành viên của NATO, đều là đồng minh thân cận của Mỹ, và Washington đang nỗ lực ngăn chặn một sự tính toán sai lầm thảm khốc giữa hai cường quốc quân sự lớn này.

Các quan chức quốc phòng Israel và Thổ Nhĩ Kỳ đã bắt đầu các cuộc đàm phán kỹ thuật tại Azerbaijan vào tháng 4/2025 nhằm ngăn chặn các cuộc đụng độ ở Syria.

Sau vụ tấn công Abu al-Duhur, Đại sứ Mỹ tại Thổ Nhĩ Kỳ Tom Barrack cho biết Washington đang nỗ lực tạo ra một cơ chế rộng hơn bao gồm Israel, Thổ Nhĩ Kỳ và Syria.

Bất kỳ thỏa thuận nào được đưa ra chắc chắn sẽ ít giống với sự “bật đèn xanh” êm thấm, dễ dãi mà Israel từng được Nga chấp thuận, mà sẽ là một sự phân chia căng thẳng, đầy điều kiện tại Syria, được Washington làm trung gian và giám sát.

Yêu cầu cốt lõi của Israel rất rõ ràng: Thổ Nhĩ Kỳ có thể giúp tái thiết Syria, nhưng không được phép để các hệ thống radar và phòng không tiên tiến của Thổ Nhĩ Kỳ triển khai về phía Nam và đe dọa hoạt động tự do của Không quân Israel tại các tuyến đường chiến lược hướng tới Iran.

Về phần mình, Thổ Nhĩ Kỳ và Syria sẽ yêu cầu Israel tôn trọng chủ quyền của Syria, giảm các cuộc tấn công và tạo điều kiện cho chính phủ mới ổn định đất nước.

Đó là một thỏa thuận khó khăn hơn nhiều so với thỏa thuận mà Netanyahu đã đạt được với Putin. Tháng 9/2015, Israel đã thể hiện sự khéo léo về ngoại giao cần thiết để chia sẻ không phận Syria với Nga.

Nhưng việc chia sẻ không phận với một cường quốc toàn cầu xa xôi theo đuổi những lợi ích chiến lược lạnh lùng khác hẳn với việc chia sẻ không phận với một cường quốc khu vực thù địch, bị chi phối bởi hệ tư tưởng và có tham vọng sâu rộng.

Nếu để mặc cho hai bên tự xoay xở, và xét đến mối quan hệ căng thẳng giữa Thổ Nhĩ Kỳ và Israel, khó tin rằng hai nước có thể tái tạo mô hình Israel-Nga đã từng thành công.

Nhưng họ sẽ không bị bỏ mặc tự xoay xở. Washington có mọi lý do để can thiệp mạnh mẽ nhằm đảm bảo rằng sự cạnh tranh ngày càng căng thẳng này không vượt khỏi tầm kiểm soát./.

(TTXVN/Vietnam+)