Tăng tốc các dự án hạ tầng đô thị lớn: Lực đẩy cho logistics vươn tầm

Không chỉ dừng lại ở việc giải quyết ùn tắc giao thông, các dự án hạ tầng đô thị lớn còn giúp khơi thông các điểm nghẽn hạ tầng logistics - yếu tố nền tảng để tăng năng lực cạnh tranh quốc gia.

Giai đoạn 2026-2030, mục tiêu hoàn thiện cơ sở hạ tầng tiếp tục được Chính phủ xác định là một trong những động lực then chốt để duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững.

Tại các đô thị đóng vai trò đầu tàu như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng và Cần Thơ, hàng loạt dự án giao thông trọng điểm đang được tập trung đẩy nhanh tiến độ. Mục tiêu không chỉ dừng lại ở việc giải quyết tình trạng ùn tắc giao thông, mà quan trọng hơn là khơi thông các điểm nghẽn về hạ tầng logistics - yếu tố nền tảng để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tối ưu hóa chuỗi cung ứng và thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài.

Trên thực tế, tiến độ triển khai các dự án hạ tầng giao thông chiến lược tại các cực tăng trưởng đã ghi nhận những chuyển biến cụ thể.

Tại khu vực phía Bắc, Hà Nội đang ưu tiên nguồn lực hoàn thiện mạng lưới đường vành đai, đặc biệt là Vành đai 4-Vùng Thủ đô, đóng vai trò quan trọng trong việc kết nối các khu, cụm công nghiệp phía Tây và Tây Nam Thủ đô với các tỉnh lân cận như Hưng Yên, Bắc Ninh, tạo nên một hành lang vận tải thông suốt.

Ở phía Nam, Thành phố Hồ Chí Minh cũng đang từng bước định hình lại cấu trúc liên kết vùng qua việc tập trung triển khai các dự án Vành đai 3, Vành đai 4 và khẩn trương đưa các tuyến đường sắt đô thị (metro) vào khai thác thương mại.

Phối cảnh Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ.

Đồng thời, việc nghiên cứu, thúc đẩy dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ được kỳ vọng sẽ gia tăng đáng kể năng lực tiếp nhận hàng hóa xuất nhập khẩu bằng đường biển của toàn bộ khu vực Đông Nam Bộ.

Tại miền Trung và Tây Nam bộ, Đà Nẵng và Cần Thơ cũng đang tăng tốc đầu tư cảng biển, cao tốc và trung tâm logistics nhằm củng cố vai trò trung chuyển hàng hóa của từng vùng.

Việc khẩn trương hoàn thiện hạ tầng giao thông có tác động trực tiếp đến hiệu quả vận hành và chi phí của ngành logistics.

Theo dự báo trong Chiến lược phát triển dịch vụ logistics quốc gia, với tốc độ tăng trưởng mục tiêu 12–15%/năm, quy mô tổng doanh thu thị trường logistics Việt Nam có khả năng đạt mức 250–280 tỷ USD vào năm 2035.

Trao đổi về tiềm năng này, ông Đào Trọng Khoa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Dịch vụ Logistics Việt Nam (VLA) nhận định Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi hệ thống hạ tầng logistics phải tương xứng cả về quy mô lẫn mức độ hội nhập.

Khi đạt được quy mô nêu trên, logistics sẽ không đơn thuần là dịch vụ phụ trợ, mà có khả năng chuyển hóa thành một “siêu ngành” giữ vai trò điều phối trọng yếu trong cấu trúc nền kinh tế.

Tuy nhiên, Chủ tịch VLA cũng thẳng thắn chỉ ra những rào cản cần khắc phục trong thực tiễn: "Ở góc độ logistics, chúng tôi thường nhấn mạnh ba yếu tố: kết nối, đồng bộ và vận hành. Nếu một cảng biển được đầu tư rất hiện đại nhưng hệ thống kết nối đường bộ, đường sắt, các cảng cạn (ICD) và kho bãi phía sau không thông suốt, thì chi phí logistics tổng thể vẫn ở mức cao. Do đó, trọng tâm của giai đoạn tới cần chuyển dịch từ việc tập trung "xây nhiều" sang "tối ưu khai thác," đảm bảo tính liên thông giữa các phương thức vận tải nhằm cắt giảm chi phí trung gian."

Xe chở container hoạt động trên cảng quốc tế Gemalink thuộc hệ thống Cảng biển Cái Mép, phường Tân Phước, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ảnh: Hồng Đạt/TTXVN)

Thực tế, tỷ trọng chi phí logistics trên tổng chi phí sản xuất tại Việt Nam hiện vẫn còn khá cao so với mặt bằng chung của khu vực. Việc khép kín các tuyến vành đai và cao tốc sẽ giúp rút ngắn thời gian luân chuyển hàng hóa từ nhà máy đến cửa ngõ xuất khẩu, từ đó giúp các doanh nghiệp vận tải tối ưu hóa vòng quay phương tiện, tiết kiệm nhiên liệu và cải thiện biên lợi nhuận.

Bên cạnh nguồn vốn đầu tư công, sự tham gia của khu vực kinh tế tư nhân vào phát triển hạ tầng logistics đang mang lại những tín hiệu khả quan. Việc xã hội hóa hạ tầng, với sự xuất hiện của các doanh nghiệp lớn có tiềm lực tài chính và công nghệ, không chỉ giúp giảm bớt áp lực ngân sách mà còn góp phần nâng cao năng lực quản trị chuỗi cung ứng theo chuẩn mực quốc tế.

Đánh giá về xu hướng này, ông Đào Trọng Khoa cho rằng, việc các "sếu đầu đàn" tham gia xây dựng mạng lưới công viên logistics hay trung tâm chia chọn thông minh - cơ sở logistics hiện đại sử dụng công nghệ tự động hóa cao như robot tự hành (AGV), trí tuệ nhân tạo (AI) và hệ thống băng tải tự động... sẽ là hướng tiếp cận phù hợp với xu hướng vận hành logistics hiện đại: kết hợp chặt chẽ giữa hạ tầng vật lý và nền tảng công nghệ số.

Mặc dù vậy, để các mô hình xã hội hóa thực sự đóng góp vào lợi ích chung, đại diện VLA lưu ý các cơ quan quản lý cần chú trọng ba yếu tố cốt lõi. Đó là cần có cơ chế minh bạch về quyền khai thác dữ liệu nhằm duy trì tính trung lập; hệ thống phải được chuẩn hóa dữ liệu để đảm bảo khả năng liên thông với các doanh nghiệp logistics, cảng, cơ quan hải quan và cuối cùng, việc đầu tư hạ tầng phải bám sát quy hoạch mạng lưới giao thông quốc gia.

Nhìn nhận từ góc độ thu hút đầu tư, ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) bổ sung, các nhà đầu tư FDI hiện nay, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ cao và bán dẫn, đòi hỏi một hệ sinh thái logistics rất khắt khe.

Việc các đô thị lớn tập trung nâng cấp hạ tầng kết nối là tín hiệu cam kết mạnh mẽ về nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư của Chính phủ, từ đó củng cố niềm tin để các tập đoàn đa quốc gia tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất tại Việt Nam.

Mặc dù có nhiều định hướng rõ ràng, song quá trình triển khai các dự án hạ tầng lớn vẫn đang đối mặt với những khó khăn nhất định, đặc biệt là việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư. Sự chậm trễ trong khâu giải phóng mặt bằng thường xuyên là nguyên nhân chính làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công tổng thể của các công trình trọng điểm.

Bên cạnh đó, cơ chế thu hút nguồn lực theo phương thức đối tác công tư (PPP) và sự phối hợp, điều phối giữa các địa phương trong vùng kinh tế cũng cần được hoàn thiện chặt chẽ hơn.

Để hạ tầng giao thông thực sự phát huy tác dụng lan tỏa, cần xem xét tách công tác giải phóng mặt bằng thành các dự án độc lập đi trước một bước; đồng thời tăng cường phân cấp, phân quyền cho các địa phương trong việc linh hoạt cân đối nguồn vốn, ông Đậu Anh Tuấn nhấn mạnh.

Trong tầm nhìn đến năm 2030, việc đầu tư hạ tầng cần hướng tới tính đồng bộ và đa tầng. Một tuyến cao tốc hay khu bến cảng mới không chỉ phục vụ phương tiện cơ giới mà cần được tích hợp mạng lưới hạ tầng số và năng lượng xanh.

Khi các vướng mắc về mặt bằng và cơ chế đầu tư được từng bước tháo gỡ, hệ thống giao thông tại các đô thị lớn sẽ trở thành nền tảng vững chắc, tạo lực đẩy để ngành logistics Việt Nam tối ưu hóa chi phí vận hành, đóng góp tích cực vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số mà cả nước đang hướng tới./.

(TTXVN/Vietnam+)