Sỹ quan công an nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo được hưởng chế độ như thế nào?

Nghị định số 400/2026/NĐ-CP quy định chế độ, chính sách đối với sỹ quan công an nghỉ hưu gồm: chế độ nghỉ dưỡng; chế độ chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo; chế độ hỗ trợ tang lễ khi từ trần.

Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà thay mặt Chính phủ ký Nghị định số 400/2026/NĐ-CP ngày 3/11/2026 quy định chế độ nghỉ dưỡng, chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo, chế độ thông tin, hỗ trợ tang lễ khi từ trần đối với sỹ quan Công an nhân dân nghỉ hưu.

Nghị định này quy định chế độ, chính sách đối với sỹ quan Công an nhân dân nghỉ hưu gồm: chế độ nghỉ dưỡng; chế độ chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo; chế độ thông tin và chế độ hỗ trợ tang lễ khi từ trần.

Đối tượng áp dụng

Nghị định áp dụng đối với các đối tượng sau: Sỹ quan Công an nghỉ hưu bao gồm: sỹ quan có cấp bậc hàm cấp Tướng; sỹ quan nguyên là lãnh đạo cấp Tổng cục trở lên và cán bộ hoạt động cách mạng trước tháng 8/1945; sỹ quan nguyên là Cục trưởng và tương đương; nguyên là Giám đốc Công an, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh; sỹ quan nguyên là Phó Cục trưởng và tương đương; nguyên là Phó Giám đốc Công an, Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy cấp tỉnh; sỹ quan có cấp bậc hàm Thượng tá, Đại tá; sỹ quan nguyên là lãnh đạo cấp phòng, lãnh đạo Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương và tương đương; sỹ quan có cấp bậc hàm Thiếu tá, Trung tá; sỹ quan nguyên là chỉ huy cấp đội và tương đương; sỹ quan nguyên là chỉ huy Công an xã, phường, thị trấn, đặc khu; sỹ quan có cấp bậc hàm cấp úy.

Đơn vị thuộc cơ quan Bộ Công an, Công an tỉnh, thành phố và các cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thực hiện chế độ, chính sách đối với sỹ quan công an nghỉ hưu.

Đối tượng không áp dụng

Nghị định không áp dụng đối với các đối tượng sau: sỹ quan công an nghỉ hưu thuộc đối tượng quy định tại Quyết định số 205/2004/QĐ-TTg ngày 10/12/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện một số chế độ, chính sách đối với cán bộ cao cấp; sỹ quan Công an nghỉ hưu đang bị tạm giam; đã và đang chấp hành án phạt tù; bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng; khai trừ ra khỏi Đảng; xóa tất cả tư cách chức vụ đã đảm nhiệm hoặc bị tước danh hiệu Công an nhân dân; sỹ quan công an trước khi nghỉ hưu vi phạm kỷ luật, pháp luật dẫn đến bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng; khai trừ ra khỏi Đảng; xóa tất cả tư cách chức vụ đã đảm nhiệm; tước danh hiệu Công an nhân dân hoặc phạt tù; sỹ quan công an nghỉ hưu định cư ở nước ngoài (bao gồm cả các trường hợp đang hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định này sau đó đi định cư ở nước ngoài).

Chế độ chăm sóc khi mắc bệnh hiểm nghèo

Nghị định quy định chế độ chăm sóc khi sỹ quan Công an nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo như sau:

Sỹ quan Công an nghỉ hưu nếu mắc một trong các bệnh thuộc danh mục bệnh hiểm nghèo theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế thì được khám giám định bệnh hiểm nghèo, nếu được Hội đồng giám định y khoa cấp có thẩm quyền kết luận mắc bệnh hiểm nghèo thì được hưởng các chế độ, chính sách sau đây:

Hằng quý được hỗ trợ bằng 2 lần mức lương cơ sở. Thời điểm tính từ quý được Hội đồng giám định y khoa kết luận mắc bệnh hiểm nghèo.

Khi điều trị nội trú ở cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong và ngoài Công an nhân dân, được đảm bảo tiền ăn bệnh lý chênh lệch so với tiền ăn cơ bản hạ sỹ quan, chiến sỹ công an nhân dân theo quy định của pháp luật về tiêu chuẩn vật chất hậu cần đối với sỹ quan, hạ sỹ quan, chiến sỹ đang phục vụ trong Công an nhân dân.

Trường hợp điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong Công an nhân dân do cơ sở khám bệnh, chữa bệnh chi trả; trường hợp điều trị nội trú tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài Công an nhân dân do Công an cấp tỉnh nơi sỹ quan Công an nghỉ hưu thường trú thanh toán trực tiếp theo số ngày điều trị thực tế được xác nhận tại giấy ra viện.

Trường hợp đang hưởng chế độ, chính sách quy định tại điểm a và b khoản này đi định cư ở nước ngoài hoặc từ trần hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý, nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 3 Nghị định này thì không được hưởng chính sách quy định tại khoản này từ quý sau liền kề của quý đi định cư ở nước ngoài hoặc từ trần hoặc vi phạm kỷ luật, pháp luật bị xử lý.

Trường hợp sỹ quan Công an trước khi nghỉ hưu đã được cấp có thẩm quyền công nhận mắc bệnh hiểm nghèo thì khi thực hiện chế độ hưu trí được hỗ trợ hằng quý và chính sách theo quy định tại khoản 1 nêu trên. Thời điểm hỗ trợ tính từ quý bắt đầu thực hiện chế độ hưu trí và mức hưởng bằng mức hỗ trợ của cả quý.

Trường hợp sỹ quan Công an nghỉ hưu đã được Hội đồng giám định y khoa kết luận mắc bệnh hiểm nghèo nhưng chưa được cấp có thẩm quyền ban hành quyết định hưởng chế độ hỗ trợ mắc bệnh hiểm nghèo mà từ trần thì đại diện thân nhân được hỗ trợ một lần bằng 2 lần mức lương cơ sở.

Hồ sơ giải quyết gồm: đơn đề nghị giám định y khoa để hưởng chế độ hỗ trợ mắc bệnh hiểm nghèo của đối tượng hoặc thân nhân đối tượng; bản chính (bản giấy) hoặc bản sao điện tử tóm tắt hồ sơ bệnh án điều trị bệnh hiểm nghèo của bệnh viện trong hoặc ngoài Công an nhân dân; bản sao hoặc bản sao điện tử quyết định về việc hưởng chế độ hưu trí hằng tháng.

Trình tự giải quyết

Sỹ quan Công an nghỉ hưu hoặc thân nhân nộp 1 bộ hồ sơ theo quy định tại khoản 4 nêu trên cho Công an cấp xã nơi thường trú bằng hình thức trực tiếp hoặc qua dịch vụ bưu chính hoặc trên môi trường điện tử.

Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ khai thác được các giấy tờ trong thành phần hồ sơ (trừ đơn đề nghị giám định y khoa) trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và cơ sở dữ liệu, hệ thống thông tin có liên quan thì sỹ quan Công an nghỉ hưu hoặc thân nhân không phải nộp các giấy tờ nêu trên.

Trong thời gian 3 ngày làm việc kể từ ngày tiếp nhận đủ hồ sơ theo quy định, Công an cấp xã có trách nhiệm tổng hợp, đề nghị Công an cấp tỉnh.

Trong thời gian 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ do Công an cấp xã chuyển đến, Công an cấp tỉnh có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, đối chiếu với danh mục bệnh hiểm nghèo do cấp có thẩm quyền ban hành.

Trường hợp đủ điều kiện thì cấp giấy giới thiệu đề nghị Hội đồng giám định y khoa cấp có thẩm quyền kèm theo bản sao hồ sơ để khám giám định; trường hợp không đủ điều kiện thì trả lời Công an cấp xã nơi đề nghị và đối tượng bằng văn bản.

Trong thời gian 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ do Công an cấp tỉnh chuyển đến, Hội đồng giám định y khoa có trách nhiệm tổ chức khám giám định bệnh hiểm nghèo theo quy định; kết luận, gửi biên bản giám định y khoa về Công an cấp tỉnh nơi đề nghị.

Căn cứ kết quả giám định của Hội đồng giám định y khoa, nếu kết luận mắc bệnh hiểm nghèo, trong thời gian 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được biên bản của Hội đồng giám định y khoa, Giám đốc Công an cấp tỉnh có trách nhiệm ban hành quyết định về việc hưởng chế độ hỗ trợ hằng quý đối với sỹ quan Công an nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo (2 bản), trong đó 1 bản gửi đối tượng, 1 bản gửi Công an cấp xã nơi đối tượng thường trú.

Trường hợp kết luận không mắc bệnh hiểm nghèo thì trả lời Công an cấp xã nơi đề nghị và đối tượng bằng văn bản. Chi phí khám giám định y khoa cho Hội đồng giám định y khoa được bảo đảm từ ngân sách nhà nước do Công an cấp tỉnh thanh toán theo mức phí như mức phí thẩm định cấp giấy giám định y khoa theo quy định của Bộ Tài chính.

Sau khi có quyết định của Giám đốc Công an cấp tỉnh về việc hưởng chế độ hỗ trợ hằng quý đối với sỹ quan Công an nghỉ hưu mắc bệnh hiểm nghèo, Công an cấp xã tiếp nhận, quản lý và thực hiện hỗ trợ theo quy định. Khi sỹ quan Công an nghỉ hưu đang hưởng chế độ hỗ trợ hằng quý từ trần, Công an cấp xã có trách nhiệm báo cáo Công an cấp tỉnh để quyết định thôi hưởng chế độ hỗ trợ hằng quý.

Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2027

Nghị định nêu rõ: sỹ quan Công an nghỉ hưu thuộc nhiều đối tượng hưởng chế độ, chính sách theo quy định tại Nghị định này thì được hưởng theo mức cao nhất. Hạ sỹ quan Công an, công nhân công an nghỉ hưu được áp dụng thực hiện chế độ, chính sách như đối với sỹ quan cấp úy nghỉ hưu.

Cán bộ Công an chưa được phong cấp bậc hàm, do nghỉ hưu trước thời điểm ban hành Pháp lệnh quy định chế độ cấp bậc hàm của sỹ quan, hạ sỹ quan Cảnh sát nhân dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ngày 16/7/1962 hoặc Pháp lệnh về lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam ngày 2/11/1987 thì căn cứ vào chức vụ hoặc tiền lương để thực hiện các chế độ, chính sách như đối với sỹ quan có chức vụ hoặc lương cấp bậc hàm tương ứng theo quy định tại Nghị định này./.

(Vietnam+)