Sửa đổi Luật Trợ giúp pháp lý: Bước tiến lớn trong chính sách an sinh xã hội
Việc xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý, nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý của người dân, là bước tiến lớn về chính sách an sinh xã hội.
Tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI, sáng 9/4, Quốc hội bàn về 4 dự án luật, trong đó đáng chú ý là dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý dự kiến thông qua tại kỳ họp này.
Dự án luật nhằm bảo đảm tốt hơn quyền tiếp cận trợ giúp pháp lý của người dân, phù hợp với tình hình và điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước; đồng thời thúc đẩy ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số; đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay; đồng thời là bước tiến lớn trong chính sách an sinh xã hội, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp với một số luật có liên quan.
Phù hợp chính quyền địa phương hai cấp
Tại phiên họp, thừa ủy quyền của Thủ tướng Chính phủ trình bày Tờ trình về dự án luật, Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hoàng Thanh Tùng, cho biết sau gần 8 năm thi hành, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 có một số quy định không còn phù hợp như: Phạm vi diện người được trợ giúp pháp lý còn hẹp; tiêu chuẩn, điều kiện đối với cộng tác viên trợ giúp pháp lý chưa đầy đủ, chưa thu hút được nguồn lực xã hội.
Bên cạnh đó, mô hình tổ chức chi nhánh của trung tâm cũng chưa phù hợp với chính quyền địa phương hai cấp; chưa có quy định về ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong trợ giúp pháp lý. Ngoài ra, nhiều nội dung mang tính thủ tục được quy định chi tiết trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, chưa phù hợp với định hướng đổi mới tư duy về xây dựng pháp luật hiện nay.
Vì vậy, việc xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý là cần thiết, nhằm khắc phục một số hạn chế, bất cập của Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; nâng cao tính chuyên nghiệp, hiệu quả của công tác trợ giúp pháp lý; ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số; đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính và thực hiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp hiện nay.
Theo đó, về diện người được trợ giúp pháp lý (khoản 2 Điều 1 Dự thảo Luật), dự thảo luật bỏ điều kiện “có khó khăn về tài chính” đối với các nhóm đối tượng: cha đẻ, mẹ đẻ, vợ, chồng, con của liệt sĩ và người có công nuôi dưỡng khi liệt sĩ còn nhỏ; người nhiễm chất độc da cam; người khuyết tật.
Về người thực hiện trợ giúp pháp lý (khoản 4, khoản 5 và khoản 6 Điều 1 dự thảo luật), bổ sung quy định trợ giúp viên pháp lý chuyển công tác đến Trung tâm Trợ giúp pháp lý thuộc địa phương khác thì được cấp lại thẻ, vì thẻ trợ giúp viên pháp lý do chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh cấp và quản lý trong phạm vi địa phương; khi chuyển công tác sang địa phương khác và vẫn làm trợ giúp viên pháp lý thì cần thu hồi thẻ ở nơi đã công tác và cấp thẻ ở nơi công tác mới.
Đối với nội dung về từ chối thụ lý yêu cầu trợ giúp pháp lý, ông Tùng cho biết dự án luật sửa đổi quy định từ chối thụ lý yêu cầu trợ giúp pháp lý trong trường hợp “Yêu cầu trợ giúp pháp lý đã được giải quyết và không phát sinh tình tiết mới.”
Về vụ việc trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng, dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý bổ sung “người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp” cũng là diện đối tượng khi có yêu cầu trợ giúp pháp lý thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; cơ quan, người tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo cho Trung tâm Trợ giúp pháp lý.
Dự thảo luật cũng bỏ quy định về điều kiện địa bàn thành lập chi nhánh của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước ở các huyện ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, giao thông không thuận tiện, chưa có tổ chức hành nghề luật sư hoặc tổ chức tư vấn pháp luật tham gia trợ giúp pháp lý, nhằm phù hợp với tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp. Đồng thời, giao chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ điều kiện thực tế tại địa phương để quyết định việc thành lập và địa bàn đặt chi nhánh của trung tâm, nhằm trao quyền mạnh mẽ hơn cho địa phương.
Cơ bản tán thành với sự cần thiết sửa đổi luật
Trình bày báo cáo thẩm tra, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội Phan Chí Hiếu, nhấn mạnh ủy ban và thường trực các cơ quan khác của Quốc hội tán thành sự cần thiết sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý với các lý do, cơ sở chính trị, pháp lý, thực tiễn như nội dung tờ trình của Chính phủ.
Cụ thể, về phạm vi sửa đổi, bổ sung của dự án luật, ông Hiếu nhấn mạnh Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội cơ bản tán thành với phạm vi của dự án luật là tập trung sửa đổi, bổ sung các nội dung về: Người được trợ giúp pháp lý, tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý; trách nhiệm của Bộ Tư pháp, ủy ban nhân dân cấp tỉnh, ủy ban nhân dân cấp xã, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cơ quan có liên quan trong công tác trợ giúp pháp lý.
Bên cạnh đó, có ý kiến đề nghị Chính phủ cần tiếp tục nghiên cứu xây dựng lộ trình đổi mới mạnh mẽ mô hình trợ giúp pháp lý theo hướng Nhà nước giữ vai trò chủ đạo, thiết kế chính sách, đặt hàng và kiểm soát chất lượng trợ giúp pháp lý; còn việc thực hiện trợ giúp pháp lý chủ yếu do các tổ chức dịch vụ pháp lý đảm nhiệm.

Về sự cần thiết, tính hợp lý của thủ tục hành chính, Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội đánh giá tán thành với định hướng rà soát, lược bỏ các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục của Luật hiện hành và giao Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định, quy định chi tiết để thực hiện chủ trương đổi mới tư duy lập pháp.
Bên cạnh đó, có ý kiến cho rằng vẫn còn một số điều khoản sửa đổi, bổ sung chưa thể hiện rõ việc giao chủ thể nào quy định về hồ sơ, trình tự, thủ tục hành chính sau khi đã được lược bỏ tại dự thảo luật. Do đó, cơ quan thẩm tra đề nghị tiếp tục rà soát kỹ thêm, xác định rõ các nội dung giao Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quy định, quy định chi tiết để vừa bảo đảm tinh thần đổi mới tư duy xây dựng pháp luật, vừa bảo đảm tính khả thi, hiệu lực, hiệu quả trong tổ chức thi hành.
Đối với việc ứng dụng, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cơ quan thẩm tra cơ bản tán thành với việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Trợ giúp pháp lý hiện hành để quy định việc ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong trợ giúp pháp lý nhằm thể chế hóa kịp thời yêu cầu của Nghị quyết số 57-NQ/TW10 và Nghị quyết số 66-NQ/TW1, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận của người dân và tối ưu hóa hiệu quả dịch vụ trợ giúp pháp lý.
Về quy định người được trợ giúp pháp lý, theo cơ quan thẩm tra, việc sửa đổi như dự thảo luật là cần thiết và là bước tiến lớn trong chính sách an sinh xã hội, bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, phù hợp với một số luật có liên quan, đồng thời giảm thủ tục hành chính, góp phần tăng cường khả năng tiếp cận công lý cho một số nhóm đặc thù, yếu thế, thể hiện rõ tính nhân văn và tiến bộ của chính sách, pháp luật.
Việc điều chỉnh trên cũng phù hợp với yêu cầu “mở rộng đối tượng được trợ giúp pháp lý phù hợp với điều kiện của đất nước” đặt ra tại Nghị quyết số 27-NQ/TW13 và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định về trợ giúp pháp lý./.
