Sầu riêng Việt Nam: Từ “trái ngọt” xuất khẩu đến bài toán nâng tầm chuỗi giá trị
Trong 7 tháng kể từ đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,47 tỷ USD (tăng 44,1% so với cùng kỳ); riêng thị trường Trung Quốc chiếm trên 95% thị phần, đạt khoảng 1,38 tỷ USD (tăng 49,6%).
Sầu riêng đang nổi lên như một trong những ngành hàng xuất khẩu có giá trị cao nhất của nông sản Việt, với kim ngạch tăng mạnh và thị trường ngày càng được mở rộng. Tuy nhiên, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phía sau những con số ấn tượng là không ít “điểm nghẽn” về vùng trồng, liên kết chuỗi, chất lượng, truy xuất nguồn gốc, bảo quản và chế biến.
Vì vậy, để nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; hướng ngành hàng sầu riêng phát triển chuyên nghiệp, minh bạch, chất lượng, nâng cao giá trị và bền vững - ngành sầu riêng phải chuyển từ tư duy “gỡ khó khi phát sinh” sang chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa, lấy chất lượng và thị trường làm nền tảng để “đi đường dài.”
Bứt tốc xuất khẩu, mở rộng “đường băng” thị trường
Thông tin cụ thể tại Họp báo Chính phủ thường kỳ, diễn ra vào chiều 3/9, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Đặng Ngọc Điệp cho hay sầu riêng là ngành hàng có giá trị kinh tế cao, tiềm năng xuất khẩu lớn với các vùng sản xuất tập trung tại Tây Nguyên, Đông Nam Bộ, Duyên hải Nam Trung Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Trong năm 2026, diện tích sầu riêng cả nước khoảng 200.000 ha, sản lượng dự kiến khoảng 2,08 triệu tấn.
Cũng theo ông Điệp, những năm gần đây, sầu riêng đã trở thành một trong những ngành hàng xuất khẩu chủ lực của rau quả Việt Nam. Kim ngạch xuất khẩu tăng từ 177,7 triệu USD năm 2021 lên khoảng 3,85 tỷ USD năm 2025, chiếm khoảng 45% giá trị xuất khẩu nhóm ngành hàng rau quả.
Trong 7 tháng kể từ đầu năm 2026, xuất khẩu sầu riêng đạt khoảng 1,47 tỷ USD (tăng 44,1% so với cùng kỳ); riêng thị trường Trung Quốc chiếm trên 95% thị phần, đạt khoảng 1,38 tỷ USD (tăng 49,6%).
Bên cạnh thị trường Trung Quốc, Việt Nam đã nỗ lực mở rộng thị trường xuất khẩu tới hơn 20 quốc gia và vùng lãnh thổ; đặc biệt, từ tháng 7/2026, Ấn Độ chính thức cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam, mở ra dư địa tăng trưởng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu.
Đến 30/8/2026, cả nước có 10.252 mã số vùng trồng và 1.841 mã số cơ sở đóng gói được cấp để phục vụ xuất khẩu các loại quả tươi như sầu riêng, thanh long, xoài, vú sữa, chuối, bưởi, chanh leo, chanh không hạt, nhãn, vải, ớt, thạch đen... sang các thị trường như Trung Quốc, Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Hàn Quốc và Nhật Bản.
Đối với sầu riêng, hiện tại có 1599 mã số vùng trồng và 281 cơ sở đóng gói đang hoạt động. Đặc biệt, ngày 14/8/2026, Tổng cục Hải quan Trung Quốc đã phê duyệt bổ sung 401 mã số vùng trồng và 166 mã số cơ sở đóng gói đối với sầu riêng (tổng số 567 mã số sầu riêng của Việt Nam). Hiện còn 169 mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói khắc phục đợt 2 và 283 mã số vùng trồng và 160 mã số cơ sở đóng gói sầu riêng đang yêu cầu địa phương bổ sung để Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật gửi sang nước nhập khẩu.
Bên cạnh đó, năng lực kiểm nghiệm phục vụ xuất khẩu cũng được củng cố, với hệ thống các phòng kiểm nghiệm được phía Trung Quốc chấp thuận ngày càng mở rộng (đến nay đã được chỉ định 52 phòng kiểm nghiệm, bao gồm 13 phòng thuộc quản lý của các cơ quan bộ ngành, 10 phòng thuộc quản lý của cơ quan địa phương và 29 phòng của tư nhân), đáp ứng nhu cầu kiểm tra các chỉ tiêu an toàn thực phẩm.
Theo ông Điệp, đây là một trong những điều kiện quan trọng để duy trì xuất khẩu ổn định, hạn chế rủi ro phát sinh từ các cảnh báo về chất lượng và an toàn thực phẩm. Đặc biệt từ ngày 1/7/2026, Bộ Nông nghiệp và Môi trường chính thức thực hiện truy xuất nguồn gốc nông sản nói chung và sản phẩm sầu riêng xuất khẩu nói riêng trên Hệ thống điện tử.
Tuy vậy, ông Điệp cũng thẳng thắn nhìn nhận xuất khẩu sầu riêng còn những khó khăn, thách thức. Đơn cử là tăng trưởng nhanh về diện tích nhưng chưa gắn với tổ chức chuỗi giá trị. Tại một số địa phương, việc mở rộng còn mang tính tự phát, chưa gắn chặt với điều kiện đất đai, nguồn nước, hạ tầng và khả năng tổ chức vùng nguyên liệu. Liên kết giữa sản xuất-thu mua-sơ chế-chế biến-tiêu thụ còn lỏng lẻo, thiếu tính khép kín và cơ chế phối hợp, chia sẻ trách nhiệm, lợi ích rõ ràng.
Bên cạnh đó, công tác tổ chức sản xuất, quản lý vùng nguyên liệu và hỗ trợ xuất khẩu tại một số địa phương chưa đồng bộ; việc cập nhật, chuẩn hóa dữ liệu vùng trồng, cơ sở đóng gói, truy xuất nguồn gốc và tổ chức liên kết sản xuất tại một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; công nghệ bảo quản, chế biến còn thiếu đồng bộ, chủ yếu tập trung vào bảo quản lạnh, cấp đông và xuất khẩu quả tươi.

Trong khi đó, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt; yêu cầu kỹ thuật của thị trường nhập khẩu ngày càng khắt khe. Điều này đòi hỏi người sản xuất, cơ sở đóng gói, doanh nghiệp xuất khẩu và các chủ thể liên quan phải nâng cao năng lực, tuân thủ quy trình kỹ thuật, kiểm soát chặt các công đoạn từ sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bảo quản đến đóng gói, xuất khẩu…
Không thể lớn bằng diện tích, phải mạnh từ chuỗi giá trị
Từ thực tiễn trên, theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, bài học rút ra là cần chuyển từ tư duy “gỡ khó khi phát sinh” sang chủ động chuẩn bị từ sớm, từ xa; lấy chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc làm nền tảng; lấy thị trường và doanh nghiệp làm định hướng tổ chức sản xuất; tăng cường liên kết giữa các chủ thể trong chuỗi; chủ động đa dạng hóa thị trường và nâng cao giá trị gia tăng, qua đó xây dựng ngành hàng nông sản phát triển ổn định, minh bạch và bền vững.
Với tinh thần đó, ông Điệp cho biết thời gian tới, bộ này sẽ tiếp tục chỉ đạo, định hướng nâng cao hiệu quả quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; hướng ngành hàng sầu riêng phát triển chuyên nghiệp, minh bạch, chất lượng, nâng cao giá trị và bền vững.
Trong đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ đẩy mạnh xúc tiến thương mại, mở rộng và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu (trong đó tiếp tục đàm phán mở rộng thị trường và tăng thị phần tại các thị trường tiềm năng như Ấn Độ, Úc, New Zealand,…); gia tăng xuất khẩu sầu riêng đông lạnh, sản phẩm chế biến sang các thị trường phù hợp; tăng cường xúc tiến thương mại. Tổ chức quảng bá thương hiệu, kết nối cung cầu.
Cùng với đó, Bộ Nông nghiệp và Môi trường sẽ rà soát, quy hoạch vùng sản xuất phù hợp với điều kiện đất đai, nguồn nước, khí hậu và hạ tầng; phát triển vùng nguyên liệu tập trung gắn với sơ chế, chế biến, bảo quản, tiêu thụ và xuất khẩu; củng cố liên kết nông dân - hợp tác xã - doanh nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trở lại vùng nguyên liệu và từng bước xây dựng thương hiệu sầu riêng Việt Nam.
Ông Điệp cũng đề cập đến việc chuẩn hóa chất lượng, an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc; phát triển hạ tầng bảo quản, chế biến và logistics, khuyến khích đầu tư kho lạnh, sơ chế, bảo quản và chế biến tại vùng sản xuất tập trung; đẩy mạnh chế biến, đa dạng hóa sản phẩm và phương thức vận chuyển; ứng dụng công nghệ để giảm chi phí, nâng cao chất lượng, đồng thời nâng cấp hạ tầng thủy lợi, giao thông phục vụ vùng nguyên liệu.
Ngoài ra, đại diện Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề cập đến việc tiếp tục xã hội hóa, mở rộng các phòng kiểm nghiệm đủ điều kiện; ưu tiên đầu tư thiết bị, nâng cao năng lực kiểm nghiệm, nhất là đối với Cadimi, Vàng O và các chỉ tiêu theo yêu cầu thị trường nhập khẩu; hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ, phương pháp kiểm nghiệm đáp ứng yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nước nhập khẩu./.
