Quy định mới về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ
Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, cơ quan tham mưu chiến lược, trọng yếu, cơ mật, giúp việc trực tiếp của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ (bao gồm cả các Phó Thủ tướng).
Ngày 1/6, Chính phủ ban hành Nghị định số 196/2026/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ.
Nghị định quy định rõ Văn phòng Chính phủ là cơ quan ngang bộ của Chính phủ, cơ quan tham mưu chiến lược, trọng yếu, cơ mật, giúp việc trực tiếp của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ (bao gồm cả các Phó Thủ tướng Chính phủ).
Văn phòng Chính phủ có chức năng tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ tổ chức các hoạt động chung của Chính phủ và lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành hoạt động của Chính phủ; thực hiện chức năng là trung tâm thông tin tổng hợp, truyền thông phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và cung cấp thông tin cho công chúng; bảo đảm điều kiện vật chất, kỹ thuật, hậu cần phục vụ hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ.
15 nhóm nhiệm vụ và quyền hạn
Theo Nghị định số 196/2026/NĐ-CP, Văn phòng Chính phủ thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Luật Tổ chức Chính phủ, quy định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của bộ, cơ quan ngang bộ và 15 nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.
Theo đó, các nhiệm vụ và quyền hạn của Văn phòng Chính phủ gồm: Tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Chính phủ; tham mưu tổng hợp, điều phối giúp Thủ tướng Chính phủ; Trung tâm thông tin tổng hợp, truyền thông phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; Cung cấp thông tin cho công chúng; Bảo đảm các điều kiện vật chất, kỹ thuật, hậu cần phục vụ hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định của Đảng và Nhà nước; Xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản khác thuộc thẩm quyền của Văn phòng Chính phủ theo quy định của pháp luật.
Văn phòng Chính phủ cũng thực hiện nhiệm vụ tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật, kiểm tra văn bản và xử lý đối với các văn bản trái pháp luật theo thẩm quyền, quy định của pháp luật; Tổ chức tiếp nhận, xử lý kịp thời các văn bản do các bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan gửi, trình Đảng ủy Chính phủ, Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ theo quy định và theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; phát hành và quản lý các văn bản của Ban Thường vụ Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Chính phủ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; xây dựng, quản lý, vận hành hệ thống lưu trữ tài liệu điện tử tại Văn phòng Chính phủ theo quy định về an ninh mạng, an ninh dữ liệu, cơ yếu, bảo vệ bí mật nhà nước và quy định của pháp luật.
Các nhiệm vụ, quyền hạn tiếp theo là: Thực hiện nghiêm, hiệu quả công tác kiểm tra, đôn đốc; tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo; phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí theo quy định của pháp luật; Tổng kết, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ công tác văn phòng đối với Văn phòng các bộ, ngành, Văn phòng Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
Về công chức, Nghị định quy định: Công chức Văn phòng Chính phủ phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức tốt, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cao và am hiểu sâu sắc lĩnh vực được phân công phụ trách, theo dõi; được áp dụng cơ chế khuyến khích, bảo vệ đối với cán bộ, công chức năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; được áp dụng cơ chế tiền lương, phụ cấp và chế độ, chính sách đãi ngộ đặc thù theo quy định.
Văn phòng Chính phủ có nhiệm vụ quản lý tổ chức bộ máy, biên chế công chức, số lượng người làm việc, vị trí việc làm; quyết định tuyển dụng, sử dụng, quản lý và thực hiện chế độ, chính sách khác đối với cán bộ, công chức, viên chức theo thẩm quyền; Quyết định và tổ chức triển khai thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, Chính phủ số của Văn phòng Chính phủ theo mục tiêu, nội dung, chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước và quy định của pháp luật; Quản lý tài chính, tài sản và các nguồn lực khác được giao; quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học; thực hiện hợp tác quốc tế theo quy định của pháp luật; Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Đảng ủy Chính phủ, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hoặc theo quy định của pháp luật.
Cơ cấu tổ chức bao gồm 17 đơn vị
Theo Nghị định số 196/2026/NĐ-CP, cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ gồm 17 đơn vị sau:
1. Vụ Tổng hợp.
2. Vụ Pháp luật.
3. Vụ Kinh tế tổng hợp.
4. Vụ Công nghiệp.
5. Vụ Nông nghiệp.
6. Vụ Khoa giáo - Văn xã.
7. Vụ Quan hệ quốc tế.
8. Vụ Nội chính.
9. Vụ Tổ chức công vụ.
10. Vụ Theo dõi công tác thanh tra (Vụ I).
11. Vụ Công tác Quốc hội, Địa phương và Đoàn thể.
12. Vụ Thư ký-Biên tập.
13. Vụ Hành chính.
14. Vụ Tổ chức cán bộ.
15. Cục Chuyển đổi số.
16. Cục Quản trị-Tài vụ.
17. Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ.

Các đơn vị thuộc cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ là các tổ chức hành chính do Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức.
Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ là Cục loại 1, được sử dụng con dấu hình Quốc huy.
Vụ Hành chính có 3 phòng.
Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh sách các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc Văn phòng Chính phủ.
Điều khoản chuyển tiếp
Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ) tiếp tục thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo quy định hiện hành cho đến khi Quyết định quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Thông tin và Truyền thông Chính phủ được Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ ban hành có hiệu lực thi hành.
Nghị định số 196/2026/NĐ-CP có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/6/2026.
Nghị định này thay thế: Nghị định số 36/2025/NĐ-CP ngày 25/2/2025 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Văn phòng Chính phủ; Nghị định số 369/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 36/2025/NĐ-CP ngày 25/2/2025 của Chính phủ./.
