Quản lý chè Thái Nguyên bằng GPS và nhật ký điện tử
Đến nay, tỉnh có hơn 500 tài khoản đăng ký sử dụng, hơn 5.000 cơ sở được cập nhật, theo dõi; 222 vùng sản xuất với diện tích gần 1.400ha; tạo 74 sổ nhật ký sản xuất; cập nhật thông tin 87 sản phẩm.
Tỉnh Thái Nguyên hiện có 149 mã vùng trồng chè được gắn định vị trên hệ thống toàn cầu GPS để thực hiện theo dõi truy xuất nguồn gốc sản phẩm và tuân thủ tốt các tiêu chí theo quy định với tổng diện tích hơn 900ha, sản lượng chè búp tươi ước đạt 11.300 tấn, trong đó có 84 mã vùng trồng nội tiêu và 25 mã vùng trồng xuất khẩu.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh phối hợp với VNPT Thái Nguyên thực hiện mô hình thí điểm ứng dụng giải pháp công nghệ số cho sản phẩm chè Thái Nguyên, hoàn thành số hóa và đôn đốc, hướng dẫn sử dụng app VNPT Green cho nông hộ, tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp; hướng dẫn áp dụng quy trình trồng, chăm sóc chè, cập nhật các thông tin, nhật ký canh tác cho 45 tổ hợp tác, hợp tác xã, doanh nghiệp sản xuất kinh doanh chè được cấp mã số vùng trồng tại các xã, phường: Quyết Thắng, Tân Cương, Đại Phúc, Đồng Hỷ, Văn Hán, Quân Chu, Vạn Phú, Phú Xuyên...
Qua rà soát của ngành nông nghiệp, các phần mềm quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh nông lâm thủy sản đang áp dụng được vận hành ổn định, cập nhật dữ liệu thường xuyên, có khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu (API) để góp phần thực hiện truy xuất nguồn gốc nông sản.
Trong lĩnh vực trồng trọt, cùng với hệ thống thông tin quản lý 149 mã số vùng trồng còn áp dụng phần mềm theo dõi, nhận biết sinh vật gây hại cây trồng, dữ liệu thanh tra, kiểm tra, dữ liệu kiểm dịch thực vật vào đầu vụ, dữ liệu cửa hàng thuốc bảo vệ thực vật, phân bón.
Trong lĩnh vực quản lý chất lượng nông lâm sản và thủy sản, tỉnh đã xây dựng hệ thống phần mềm quản lý chất lượng nông sản - Thái Nguyên (https://qlclnongsan.nnmtthainguyen.gov.vn/).
Đến nay, tỉnh có trên 500 tài khoản đăng ký sử dụng, hơn 5.000 cơ sở được cập nhật, theo dõi, quản lý; 222 vùng sản xuất với diện tích gần 1.400ha; tạo lập 74 sổ nhật ký sản xuất; cập nhật thông tin 87 sản phẩm....
Bên cạnh đó, hiện nay trên địa bàn tỉnh có khoảng 80.000 cơ sở, chủ yếu là nông hộ sản xuất quy mô nhỏ, trong đó có khoảng 400-500 doanh nghiệp, hợp tác xã có khả năng ứng dụng, cập nhật dữ liệu để theo dõi, quản lý hoạt động sản xuất, kinh doanh nông sản trên các hệ thống, nền tảng truy xuất nguồn gốc điện tử. Đa số cơ sở còn lại thực hiện truy xuất nguồn gốc nông sản thông qua việc sử dụng sổ nhật ký ghi chép, theo dõi hoạt động sản xuất, kinh doanh (bản giấy, chưa được số hóa)...
Ông Dương Sơn Hà, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Thái Nguyên, cho biết khó khăn lớn trong triển khai truy xuất nguồn gốc nông, lâm, thủy sản trên địa bàn tỉnh là sản xuất nông lâm thủy sản chủ yếu có quy mô nông hộ, nhỏ lẻ; việc liên kết giữa sản xuất, chế biến, kinh doanh theo chuỗi cung ứng còn nhiều hạn chế.
Việc truy xuất nguồn gốc nông sản chủ yếu thực hiện trên hệ thống sổ ghi chép, sổ sách, chưa có quy định bắt buộc phải thực hiện trên môi trường điện tử; việc thực hiện trên môi trường điện tử mới chỉ tập trung thực hiện trên sản phẩm chủ lực là chè và tại một số doanh nghiệp, hợp tác xã có quy mô sản xuất, tiêu thụ lớn và có hoạt động xuất khẩu.

Người sản xuất chưa duy trì đầy đủ, thường xuyên việc ghi chép nhật ký, lưu trữ thông tin theo dõi hoạt động sản xuất, kinh doanh; thông tin chủ yếu cho mục đích quảng cáo sản phẩm của cơ sở do đó không đảm bảo khả năng nhận diện theo từng công đoạn sản xuất, chế biến dẫn đến không xác định được nguyên nhân nếu sản phẩm gặp vấn đề về chất lượng không đảm bảo an toàn thực phẩm và rất khó khăn trong quá trình truy xuất nguồn gốc, thu hồi sản phẩm.
Hệ thống truy xuất nguồn gốc còn chưa đồng bộ, thiếu sự liên thông giữa các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp, gây khó khăn cho việc quản lý toàn chuỗi sản phẩm...
Để giải quyết những bất cập này, trong thời gian tới, tỉnh Thái Nguyên tập trung chỉ đạo tăng cường kiểm soát chất lượng sản phẩm nông, lâm sản và thủy sản gắn chặt với hệ thống truy xuất nguồn gốc nông sản của Bộ Nông nghiệp và Môi trường; tăng cường công tác tuyên truyền, tập huấn nâng cao nhận thức và kỹ năng về truy xuất nguồn gốc đối với các cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh tiếp tục hỗ trợ xây dựng, phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng tập trung, an toàn, chứng nhận chất lượng theo tiêu chuẩn như VietGAP, hữu cơ, mã số vùng trồng… xây dựng danh mục sản phẩm, hàng hóa nông sản thuộc phạm vi quản lý bắt buộc thực hiện truy xuất nguồn gốc; đồng thời chuẩn hóa thông tin lưu trữ và số hóa dữ liệu ngay từ khâu sản xuất ban đầu, tích hợp đầy đủ thông tin kiểm nghiệm, chứng nhận chất lượng, mã số vùng trồng, ứng dụng công nghệ số trong quản lý sản xuất và truy xuất nguồn gốc, xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu điện tử về vùng nguyên liệu, cơ sở sản xuất, chế biến và kinh doanh nông sản, áp dụng mã QR, tem điện tử để cung cấp đầy đủ thông tin về sản phẩm đến người tiêu dùng./.
