Phú Thọ: Xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là chiến lược phát triển
Xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là nền tảng phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh, Phú Thọ đã triển khai sớm và đồng bộ Nghị quyết 57-NQ/TW.
Thời gian qua, triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, nhiều địa phương đã chủ động xây dựng chương trình hành động, thúc đẩy ứng dụng công nghệ và hình thành các mô hình phát triển mới. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng cho thấy yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế, cơ chế tài chính và hạ tầng để khơi thông nguồn lực cho phát triển.
Động lực mới cho tăng trưởng
Xác định khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo là nền tảng để tái cấu trúc mô hình phát triển theo hướng hiện đại, bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh, Phú Thọ là một trong những địa phương triển khai sớm và đồng bộ Nghị quyết 57-NQ/TW.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Phú Thọ đã chủ động ban hành các chương trình, kế hoạch hành động cụ thể; kiện toàn hệ thống chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở. Đến nay, 100% xã, phường, thị trấn trên địa bàn đã thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 57-NQ/TW. Nhờ vậy, Phú Thọ luôn nằm trong nhóm địa phương dẫn đầu cả nước về tiến độ thực hiện Nghị quyết với 100% chỉ tiêu, nhiệm vụ hoàn thành đúng hạn trên hệ thống giám sát của Trung ương.
Hiệu quả chuyển đổi số của tỉnh thể hiện qua nhiều chỉ số điều hành. Tỷ lệ xử lý văn bản đi toàn trình đạt 91,7%, văn bản đến toàn trình đạt 93,8%, đứng đầu cả nước.
Tỷ lệ hồ sơ thủ tục hành chính được giải quyết trực tuyến tăng từ 89,65% vào thời điểm 1/7/2025 lên khoảng 97-99% hiện nay. Tỷ lệ cấp kết quả điện tử đạt gần 90%; tỷ lệ số hóa hồ sơ và kết quả giải quyết thủ tục hành chính đạt trên 87%; tỷ lệ khai thác, tái sử dụng dữ liệu số hóa đạt hơn 91%.
Không chỉ tạo chuyển biến trong quản lý nhà nước, kinh tế số tại Phú Thọ cũng ghi nhận sự phát triển mạnh. Sau hợp nhất, quy mô kinh tế số của tỉnh ước chiếm khoảng 22,71% GRDP, xếp thứ 3/34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Khoảng 600 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ số đã đóng góp khoảng 4,55 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP năm 2025.
Trong khi đó, An Giang lựa chọn hướng đi gắn khoa học công nghệ với phát triển các ngành kinh tế chủ lực, đặc biệt là nông nghiệp. Tỉnh xây dựng chương trình hỗ trợ ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ giai đoạn 2026-2030, định hướng đến năm 2035 với tổng kinh phí dự kiến khoảng 120 tỷ đồng từ ngân sách nhà nước và các nguồn lực hợp pháp khác.
Theo định hướng của tỉnh, khoảng 50 dự án ứng dụng, chuyển giao và đổi mới công nghệ sẽ được triển khai trong các lĩnh vực công nghệ số, tự động hóa, Internet vạn vật (IoT) và các giải pháp công nghệ tiên tiến khác. Đồng thời, tỉnh dự kiến thực hiện khoảng 50 dự án sản xuất thử nghiệm và thương mại hóa công nghệ nhằm hoàn thiện công nghệ, kiểm chứng quy trình kỹ thuật và đưa nhanh kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.
An Giang cũng đặt mục tiêu hỗ trợ 75 lượt tổ chức, doanh nghiệp tham gia hoạt động phát triển thị trường khoa học và công nghệ, kết nối cung - cầu trong và ngoài nước; phát triển ít nhất 1-2 tổ chức trung gian hoạt động chuyên nghiệp, hiệu quả trong lĩnh vực công nghệ.
Xác định doanh nghiệp và hợp tác xã là chủ thể trung tâm trong quá trình đổi mới công nghệ, tỉnh An Giang ưu tiên hỗ trợ các lĩnh vực có thế mạnh như nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ giống, công nghệ sau thu hoạch, công nghệ chế biến nông sản và thủy sản, logistics, năng lượng tái tạo, công nghệ môi trường và các mô hình sản xuất gắn với kinh tế tuần hoàn.

Cùng với các địa phương, cộng đồng doanh nghiệp khoa học công nghệ cũng đang có sự chuyển biến tích cực. Theo thống kê, đến hết năm 2025, cả nước có 962 doanh nghiệp được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp khoa học và công nghệ; trong đó, công nghệ sinh học chiếm tỷ trọng lớn nhất với 39%, công nghệ thông tin chiếm 23%, tự động hóa chiếm 19%, vật liệu mới chiếm 10%.
Khoảng 300 doanh nghiệp trong số này đã làm chủ hoàn toàn công nghệ sản xuất và khoảng 50 doanh nghiệp đã có khả năng xuất khẩu sản phẩm công nghệ ra thị trường quốc tế. Những kết quả này cho thấy khoa học công nghệ đang từng bước khẳng định vai trò là động lực phát triển mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Hoàn thiện cơ chế để khơi thông nguồn lực
Bên cạnh kết quả đạt được, thực tiễn triển khai tại các địa phương cũng cho thấy nhiều yêu cầu mới đặt ra đối với công tác hoàn thiện thể chế và tổ chức thực hiện. Hiện nhiều địa phương vẫn gặp khó khăn trong triển khai các quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ phát triển khoa học và công nghệ do chưa có hướng dẫn cụ thể về tổ chức và vận hành.
Việc thành lập các trung tâm đổi mới sáng tạo cấp tỉnh cũng còn nhiều vướng mắc liên quan đến mô hình hoạt động, cơ chế tài chính và vị trí pháp lý. Một số địa phương cũng cho rằng hệ thống thông tin phục vụ giải quyết thủ tục hành chính cần tiếp tục được nâng cấp theo hướng đồng bộ, liên thông và linh hoạt hơn để phù hợp với yêu cầu phân cấp, phân quyền trong giai đoạn mới.
Bên cạnh đó, chất lượng hạ tầng số giữa các khu vực vẫn còn chênh lệch, nhất là ở vùng nông thôn, miền núi. Nguồn nhân lực phục vụ chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo tại cơ sở còn hạn chế, trong khi nhu cầu về nhân lực công nghệ chất lượng cao ngày càng lớn.
Trước thực tế này, nhiều địa phương kiến nghị Trung ương sớm hoàn thiện các quy định về hỗ trợ doanh nghiệp khoa học công nghệ, cơ chế vận hành quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ phát triển khoa học công nghệ và các trung tâm đổi mới sáng tạo.
Cùng với đó, việc xây dựng hệ thống dữ liệu dùng chung, công bố tiêu chuẩn dữ liệu chuyên ngành và tăng cường chia sẻ dữ liệu giữa các bộ, ngành, địa phương được xem là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý và tránh đầu tư trùng lặp.
Ông Trần Xuân Đích, Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cho biết, năm 2025 là dấu mốc quan trọng trong việc hoàn thiện thể chế chính sách theo định hướng của Đảng và Nhà nước. Đặc biệt, Luật Khoa học và Công nghệ đã được bổ sung nội dung về "đổi mới sáng tạo," tạo cơ sở pháp lý vững chắc để vận hành các mô hình kinh tế dựa trên tri thức.
Nghị định 265/2025/NĐ-CP và Nghị định 268/2025/NĐ-CP cũng được ban hành ngày 14/10/2025 nhằm hướng dẫn Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo. Bộ đôi Nghị định này thay thế Nghị định 13/2019/NĐ-CP, tập trung vào tài chính, đầu tư, đổi mới sáng tạo, hỗ trợ khởi nghiệp và các điều kiện doanh nghiệp khoa học công nghệ mới.
Các chính sách ưu đãi về thuế, đất đai và tín dụng cũng được đưa trực tiếp vào các luật chuyên ngành về đầu tư, thuế, đất đai… giúp cơ quan quản lý ngành chủ động điều chỉnh linh hoạt theo nhu cầu phát triển của doanh nghiệp.
Cũng theo Phó Cục trưởng Cục Khởi nghiệp và Doanh nghiệp công nghệ, Chính phủ hiện đang đẩy mạnh việc chuyển đổi các hộ kinh doanh cá thể thành doanh nghiệp; đồng thời lấy yếu tố công nghệ làm trọng tâm để tạo sức cạnh tranh đột phá.
Việc Hiệp hội doanh nghiệp khoa học và công nghệ Việt Nam tổ chức thành công Đại hội nhiệm kỳ II năm 2025 được kỳ vọng sẽ tạo sự kết nối chặt chẽ hơn trong cộng đồng doanh nghiệp, giúp các đơn vị cùng chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và hấp thụ công nghệ từ các viện, trường.
Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo, việc đặt khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo ở vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển không chỉ là yêu cầu trước mắt mà còn là định hướng lâu dài để nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế. Đây cũng là nền tảng để Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và xây dựng nền kinh tế dựa trên tri thức trong giai đoạn phát triển mới./.
