Nửa thế kỷ đổi mới, cảng Sài Gòn hiện đại hóa để vươn ra biển lớn

Từ những bến cảng sơ khai hình thành cùng quá trình mở cõi phương Nam, hệ thống cảng biển của TP.HCM đã không ngừng phát triển, trở thành động lực thúc đẩy thương mại, công nghiệp và hội nhập quốc tế.

Nằm bên dòng Bến Nghé-Sài Gòn, Thành phố Hồ Chí Minh từ lâu đã là cửa ngõ giao thương quan trọng của Nam Bộ và cả nước. Từ những bến cảng sơ khai hình thành cùng quá trình mở cõi phương Nam, hệ thống cảng biển của thành phố đã không ngừng phát triển, trở thành động lực thúc đẩy thương mại, công nghiệp và hội nhập quốc tế.

50 năm kể từ ngày thành phố vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, hành trình từ thương cảng Bến Nghé-Sài Gòn đến các cảng hiện đại như Cát Lái, Hiệp Phước, Cái Mép-Thị Vải và khát vọng xây dựng Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ đã phản chiếu sinh động quá trình vươn mình của đầu tàu kinh tế cả nước trên con đường hướng biển và kết nối toàn cầu.

Từ những bến sông sơ khai, hệ thống cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh đã trải qua hành trình hơn một thế kỷ hình thành và phát triển.

Trước khi trở thành đô thị lớn nhất cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh khởi nguồn từ những bến sông nhộn nhịp bên dòng sông Sài Gòn, rạch Bến Nghé.

Từ nơi những đoàn thuyền buôn trong và ngoài nước tụ hội, một thương cảng mang tầm vóc quốc tế dần hình thành, đặt nền móng cho vị thế đầu tàu kinh tế của thành phố hôm nay.

Từ bến sông giao thương

Trước khi trở thành một thương cảng sầm uất bậc nhất Đông Dương, vùng đất này khởi đầu là các bến sông sơ khai dọc bờ sông Sài Gòn và rạch Bến Nghé. Thế kỷ XVII-XVIII, đây là nơi giao thương của các thuyền buôn trong và ngoài nước, hình thành nên một trung tâm trung chuyển hàng hóa sơ khởi của vùng đất Gia Định.

Cảng Sài Gòn được thực dân Pháp xây dựng từ năm 1860, chính thức đưa vào khai thác và giao thương quốc tế năm 1863, là cảng biển lâu đời nhất tại Việt Nam. Sau khi chiếm được Gia Định, người Pháp ngay lập tức nhận ra lợi thế vị trí chiến lược của dòng sông Sài Gòn - sâu, ít phù sa bồi lắng, nằm ngay trên trục đường hàng hải quốc tế kết nối Đông-Tây.

Theo Kiến trúc sư Nguyễn Đình Hòa (chuyên gia Viện Kinh tế và Quản lý Thành phố Hồ Chí Minh), cảng Sài Gòn xưa tập trung chủ yếu ở khu vực Bến Nhà Rồng và Khánh Hội ngày nay. Những cầu tàu bằng gỗ, sau đó được kiên cố hóa bằng sắt và bêtông, đã biến nơi đây thành cửa ngõ xuất khẩu lúa gạo lớn nhất Đông Dương.

Trong quá trình hơn 160 năm hình thành và phát triển, cảng Sài Gòn luôn gắn liền với những biến đổi và thăng trầm của lịch sử Sài Gòn-Gia Định-Thành phố Hồ Chí Minh. Không chỉ có giá trị kinh tế, cảng Sài Gòn còn gắn liền với vận mệnh dân tộc. Ngày 5/6/1911, từ Bến cảng Nhà Rồng, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đã bắt đầu hành trình bôn ba tìm đường cứu nước.

Sau ngày đất nước thống nhất, cảng Sài Gòn giữ vai trò cửa ngõ tiếp nhận hàng hóa, vật tư và nguồn viện trợ phục vụ khôi phục kinh tế; đồng thời, bảo đảm lưu thông hàng hóa giữa hai miền. Hoạt động khai thác từng bước được kiện toàn, mở rộng, tạo nền tảng để cảng phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ đổi mới.

Theo ông Lý Đức Hiếu, nguyên Phó Trưởng phòng Tổng hợp (Công ty cổ phần cảng Sài Gòn), những ngày đầu sau khi thống nhất, đất nước ta gặp nhiều khó khăn về kinh tế. cảng Sài Gòn cũng như tất cả các xí nghiệp khác phải hoạt động theo cơ chế tập trung bao cấp, đất nước đang thời kỳ bị cấm vận và một số cơ sở vật chất của cảng đang trong tình trạng xuống cấp, phần lớn các phương tiện, thiết bị kỹ thuật thuộc sở hữu tư nhân.

Mặc dù vậy, đội ngũ cán bộ, công nhân vẫn cố gắng hết sức mình để đưa cảng đi lên theo đúng chức năng, nhiệm vụ, phục vụ công cuộc xây dựng đất nước và phát triển các ngành kinh tế của chế độ xã hội chủ nghĩa. Chính trong gian khó, tinh thần trách nhiệm và nỗ lực vượt khó của tập thể lao động cảng Sài Gòn càng được thể hiện rõ nét, góp phần giữ vững hoạt động sản xuất, từng bước ổn định tổ chức.

Từ thực tiễn đó, hoạt động của cảng Sài Gòn dần đi vào nề nếp, đúng theo chủ trương, hoạch định của Đảng và Nhà nước. Đại hội Đảng bộ cảng Sài Gòn lần thứ 2 (năm 1980) đã ra nghị quyết lấy ngày 5/6 hàng năm làm “Ngày truyền thống Công nhân cảng Sài Gòn.”

Sự kiện này đã trở thành nguồn động lực tinh thần lớn lao, tiếp thêm sức mạnh cho cán bộ, công nhân viên kiên trì vượt qua mọi khó khăn, đưa doanh nghiệp tiến lên chính quy hiện đại.

Sản lượng thông qua năm 1986 đã lần đầu tiên vượt ngưỡng 2 triệu tấn và đạt 2,3 triệu tấn, gấp đôi năm 1976. Từ năm 1986, theo chủ trương đổi mới của Đảng, cảng Sài Gòn chuyển dần sang chế độ hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa. Trên tinh thần này, Cảng xóa bỏ hàng loạt hình thức quản lý trung gian và thành lập các xí nghiệp thành viên, trao quyền chủ động cho từng giám đốc xí nghiệp.

Các cảng tại Thành phố Hồ Chí Minh luôn tấp nập các tàu làm hàng. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)

Cảng Sài Gòn duy trì tăng trưởng, bảo đảm nghĩa vụ ngân sách, từng bước tích lũy nguồn lực để mở rộng quy mô và hiện đại hóa hạ tầng.

Từ năm 1992, các nguồn vốn mới tích luỹ và vay từ nhiều nguồn khác nhau được dồn vào việc nâng cấp để hiện đại hóa thêm một bước bến bãi, cầu tàu và trang bị kỹ thuật.

Đến cuối năm 2015, cảng Sài Gòn chuyển đổi mô hình hoạt động thành Công ty cổ phần cảng Sài Gòn, tiếp tục phát triển theo hướng hiện đại, hiệu quả và hội nhập sâu hơn với hệ thống logistics quốc gia và quốc tế.

Nửa thế kỷ đổi mới, hiện đại hóa để vươn ra biển lớn

Hiện nay, cảng Sài Gòn vẫn giữ vai trò là thương cảng tổng hợp có quy mô hàng đầu trong hệ thống cảng biển của Việt Nam với hơn 3.000m cầu cảng nằm dọc theo sông Sài Gòn cùng hệ thống kho bãi, trang thiết bị khá hoàn chỉnh theo quy trình công nghệ tiên tiến trong ngành khai thác cảng.

Thực hiện chủ trương chiến lược phát triển kinh tế biển của quốc gia, cảng Sài Gòn đã, đang vận dụng nội lực và liên kết hiệu quả với những tập đoàn hàng hải của thế giới là PSA-Singapore, SSA Marine-Hoa Kỳ, Maersk A/S-Đan Mạch để xây dựng 3 cảng hiện đại tại khu vực Cái Mép-Thị Vải, có thể tiếp nhận tàu đến 80.000 DWT, năng lực xếp dỡ hơn 3,5 triệu TEU/năm.

Các cảng tại Thành phố Hồ Chí Minh luôn tấp nập các tàu làm hàng. (Ảnh: Tiến Lực/TTXVN)

Sở hữu rất nhiều bến cảng lớn nhỏ, Thành phố Hồ Chí Minh đang là trung tâm cảng biển quy mô lớn nhất cả nước. Đây cũng là mắt xích quan trọng trong hệ thống logistics của khu vực phía Nam. Trong đó, Tân cảng Cát Lái hiện là cảng lớn và hiện đại nhất cả nước, thuộc nhóm cảng container có sản lượng thông qua hàng đầu thế giới; diện tích khai thác của cảng khoảng 160 ha bãi, 2.040m cầu tàu và khả năng tiếp nhận tàu có tải trọng khoảng 45.000 DWT.

Thành phố Hồ Chí Minh cũng chính là nơi “khởi nghiệp” của Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn hơn 37 năm về trước. Trải qua hơn 3 thập niên hình thành và phát triển, đến nay, Tân cảng Sài Gòn đang sở hữu, quản lý 5 cảng biển lớn cùng 18 cơ sở kho bãi, trung tâm logistics trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, hiện đảm nhiệm gần 70% thị phần container xuất nhập khẩu qua hệ thống cảng biển của “siêu đô thị” Thành phố Hồ Chí Minh.

Cùng với hệ thống của Công ty cổ phần cảng Sài Gòn, các cảng thuộc hệ thống Tổng Công ty Tân cảng Sài Gòn cũng đạt những thành tựu lớn, nhất là các cảng ở Cát Lái, Cái Mép. Sản lượng container thông qua các cảng khu vực Thành phố Hồ Chí Minh của Tân cảng Sài Gòn (bao gồm Tân cảng Cát Lái, Tân cảng Hiệp Phước và cụm cảng Cái Mép-Thị Vải) năm 2025 đạt 9,9 triệu Teu, tăng 9,6% so với năm 2024.

Theo Tiến sỹ Phạm Ngọc Tuấn, Trưởng Khoa Quy hoạch (Trường Đại học Kiến Trúc Thành phố Hồ Chí Minh), kinh tế biển đang trở thành một trong những động lực phát triển mới của Thành phố Hồ Chí Minh trong bối cảnh hội nhập quốc tế và tái cấu trúc không gian vùng. Với lợi thế tiếp cận biển Đông thông qua hệ thống sông Sài Gòn-Đồng Nai và cụm cảng biển khu vực Cái Mép-Thị Vải, thành phố có điều kiện thuận lợi để phát triển các ngành logistics, cảng biển, thương mại quốc tế, dịch vụ hàng hải và kinh tế ven biển.

Sự hình thành các hành lang kinh tế hướng biển không chỉ mở rộng không gian phát triển của thành phố mà còn tăng cường khả năng kết nối với các trung tâm kinh tế trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Trong tầm nhìn dài hạn, kinh tế biển không chỉ là một ngành kinh tế quan trọng mà còn là động lực mở rộng không gian phát triển, đưa Thành phố Hồ Chí Minh từ một đô thị ven sông trở thành một siêu đô thị hướng biển có khả năng kết nối sâu rộng với mạng lưới kinh tế toàn cầu.

“Lợi thế hướng biển cần được khai thác như một động lực chiến lược dài hạn thông qua phát triển logistics, dịch vụ cảng biển, thương mại quốc tế và các ngành kinh tế biển có giá trị gia tăng cao,” Tiến sỹ Phạm Ngọc Tuấn phân tích.

Trải qua 50 năm kể từ ngày thành phố mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh, hệ thống cảng biển không chỉ hoàn thành sứ mệnh là cửa ngõ giao thương của nền kinh tế mà còn trở thành một trong những động lực quan trọng thúc đẩy hội nhập quốc tế.

Từ Bến Nghé, Sài Gòn xưa đến những bến cảng hiện đại hôm nay là hành trình phản chiếu sinh động sự phát triển của thành phố - từ một đô thị ven sông vươn lên trở thành trung tâm kinh tế biển của cả nước, tạo nền tảng cho khát vọng xây dựng trung tâm trung chuyển quốc tế trong tương lai./.

(TTXVN/Vietnam+)