Nông nghiệp - “điểm hẹn đã chín” cho hợp tác Việt Nam-Anh

Thế mạnh R&D của Anh kết hợp quy mô thực địa Việt Nam đang tạo "thời điểm vàng" cho hợp tác nông nghiệp song phương, với giải pháp trọng tâm là công nghệ cảm biến IoT cho Đồng bằng sông Cửu Long.

Nước Anh mạnh về công nghệ, Việt Nam giàu kinh nghiệm thực địa và là một trong những nhà xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới, vậy đâu là điểm gặp gỡ để hai nền nông nghiệp có thể cùng đi xa? Đó là câu hỏi đã dẫn dắt cuộc trò chuyện của phóng viên TTXVN tại London với Giáo sư Quách Mạnh Hào - hiện đang giảng dạy tại Đại học Lincoln, ngôi trường ở miền Đông nước Anh nổi tiếng về nông nghiệp và công nghệ thực phẩm.

Thành công của nước Anh khởi nguồn từ một định hướng được theo đuổi bền bỉ qua năm tháng. Ngay từ năm 2013, trong chiến lược công nghệ nông nghiệp quốc gia đầu tiên, người Anh đã nhắc lại niềm tự hào rằng họ từng dẫn đầu cả Cách mạng Công nghiệp lẫn Cách mạng Nông nghiệp, rồi cam kết đầu tư 160 triệu bảng (khoảng 250 triệu USD theo tỷ giá năm 2013) để thu hẹp khoảng cách giữa một nền khoa học hàng đầu và thực tiễn đồng ruộng.

Đáng nói hơn cả là suốt hơn một thập kỷ, qua nhiều đời chính phủ, mạch quy hoạch dài hạn ấy chưa từng gián đoạn. Chiến lược Công nghiệp công bố ngày 23/6/2025 đã xếp công nghệ nông nghiệp vào nhóm ngành “tiền tuyến” - một vị thế mới cho lĩnh vực này trong nền kinh tế.

Định hướng ấy được cụ thể hóa bằng cả nguồn lực tài chính lẫn hành lang pháp lý: ít nhất 200 triệu bảng được dành cho Chương trình Đổi mới nông nghiệp đến năm 2030, và Quy định về Công nghệ di truyền (Nhân giống chính xác) ký ban hành tháng 5/2025 đã đưa nước Anh xích lại gần cách tiếp cận cởi mở của Canada, Australia, Mỹ, Nhật Bản.... Một nền nông nghiệp đi lên từ sự kiên định như thế gợi mở nhiều điều cho Việt Nam.

Theo Giáo sư Quách Mạnh Hào, “điểm gặp gỡ tự nhiên” nhất của nền nông nghiệp hai nước chính là sự cộng hưởng giữa năng lực nghiên cứu và phát triển (R&D) cùng công nghệ nền của Anh - trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa, cảm biến, phân tích chuỗi cung ứng - với quy mô sản xuất và tri thức thực địa của Việt Nam. Thế mạnh của bên này chính là điều bên kia đang cần, và ngược lại - một sự bổ sung tự nhiên hiếm có.

Ông cũng cho rằng đây là thời điểm thích hợp, bởi nhiều điều kiện đang cùng hội tụ. Cả hai quốc gia đều đã cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, trong khi Đề án 1 triệu ha lúa chất lượng cao, phát thải thấp ở Đồng bằng sông Cửu Long lại đòi hỏi công nghệ đo đạc, báo cáo và thẩm định (MRV) phát thải rất chính xác - vốn là thế mạnh sẵn có của các viện nghiên cứu Anh.

Bên cạnh đó, Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Anh (UKVFTA) mở ra ưu đãi thuế quan lớn, nhưng cũng đặt ra yêu cầu cao về minh bạch chuỗi cung ứng và tiêu chuẩn ESG - nơi công nghệ truy xuất nguồn gốc của Anh có thể giúp nông sản Việt tự tin hơn khi vào các thị trường khó tính.

Và một điều kiện nữa cũng đã chín muồi: chi phí cảm biến, IoT đã giảm nhiều so với trước, hạ tầng viễn thông Việt Nam đã phủ rộng, khiến nông nghiệp thông minh không còn là câu chuyện xa vời trên lý thuyết.

Trong rất nhiều hướng công nghệ có thể lựa chọn, điều thú vị là Giáo sư Quách Mạnh Hào lại nghiêng về một lựa chọn có phần “khiêm nhường”. Ông không chọn chỉnh sửa gene hay robot, mà chọn hệ thống cảm biến thông minh và giám sát đồng ruộng (IoT & Remote Sensing) - công nghệ dễ chuyển giao, chi phí hợp lý và thích ứng nhanh nhất với Đồng bằng sông Cửu Long hiện nay.

Giáo sư Quách Mạnh Hào, giảng viên tại Đại học Lincoln. (Ảnh: TTXVN phát)

Lý lẽ của ông thấm đẫm tinh thần thực tế. Chỉnh sửa gene đòi hỏi lộ trình pháp lý phức tạp và nhiều năm chọn tạo giống; còn tự động hóa, robot hóa quy mô lớn lại vướng rào cản chi phí đầu tư ban đầu quá cao so với quy mô hộ gia đình.

Trong khi đó, các thiết bị đo độ mặn, độ pH, mực nước, dưỡng chất và độ ẩm có thể kết nối thẳng tới chiếc điện thoại thông minh của người nông dân, giúp bà con nhận cảnh báo xâm nhập mặn theo thời gian thực để chủ động đóng/mở cống, điều chỉnh lịch gieo sạ hay tối ưu lượng nước tưới. Đó là một công nghệ chạm đúng vào nỗi lo thường trực của người nông dân.

Kinh nghiệm từ Viện Công nghệ Nông nghiệp-Thực phẩm Lincoln (LIAT), với các dự án đo tác động của mặn xâm nhập nước ngầm và ứng dụng cảm biến Hyperspectral đánh giá sức khỏe cây trồng, cho thấy tính khả thi khá rõ: một hệ thống cảnh báo sớm chi phí thấp mà có thể mang lại hiệu quả kinh tế gần như tức thì.

Nhưng công nghệ dù tốt đến đâu cũng sẽ khó bén rễ, nếu sự hợp tác chỉ dừng ở những cái bắt tay. Với trăn trở ấy, Giáo sư Quách Mạnh Hào gợi ý một mô hình thực chất hơn: nghiên cứu ứng dụng chung gắn với đào tạo tiến sỹ, thạc sỹ nghiên cứu thực địa, tiến tới xây dựng một “phòng thí nghiệm sống” (Living Lab) đặt ngay tại trung tâm Đồng bằng sông Cửu Long. Đó cũng chính là cách Đại học Lincoln đang theo đuổi, nơi mỗi đề tài tiến sỹ đều khởi đi từ bài toán kỹ thuật mà nông dân và doanh nghiệp đặt ra trên đồng ruộng, chứ không phải những đề tài “trên giấy”.

Để đi được đường dài, vị Giáo sư nhắc tới 3 điều kiện cốt yếu: một cơ chế tài trợ có sự tham gia của doanh nghiệp, kết hợp ngân sách từ các quỹ nghiên cứu công với kinh phí đặt hàng thực tế từ các tập đoàn; một cách đánh giá thành công dựa trên sản phẩm thực tế - giảm được bao nhiêu phần trăm thất thoát sau thu hoạch, tiết kiệm bao nhiêu phân bón - thay vì chỉ đếm số bài báo khoa học; và một cơ chế trao đổi nhân lực hai chiều. Trong đó, hình ảnh đưa chuyên gia Anh sang Đồng bằng sông Cửu Long để “cùng ăn, cùng ở, cùng làm” cho thấy giá trị của việc gắn nghiên cứu với thực tiễn đồng ruộng.

Và có lẽ đây là điều để lại nhiều suy ngẫm hơn cả. Trong những câu chuyện hợp tác công nghệ, đôi khi ta quen nghĩ về nó như một dòng chảy một chiều. Nhưng Giáo sư Quách Mạnh Hào nhìn theo hướng khác. Với các nhà khoa học Anh, Việt Nam còn đóng vai trò như một “phòng thí nghiệm thực địa sống” vô cùng quý giá.

Việt Nam sở hữu những lợi thế mà giới nghiên cứu phương Tây khó có được: vốn tri thức bản địa tích lũy qua nhiều thập kỷ ứng phó với thiên tai, từ mô hình “tôm-lúa”, luân canh mặn-ngọt đến nông lâm kết hợp; một kho tàng nguồn gene cây trồng nhiệt đới chịu ngập, chịu mặn, kháng sâu bệnh; cùng một môi trường khắc nghiệt - nóng ẩm, nhiễm mặn - rất lý tưởng để kiểm nghiệm độ bền cho các thiết bị, thuật toán được phát triển tại Lincoln. Nói cách khác, cánh đồng Việt Nam không chỉ là nơi đón nhận công nghệ, mà còn là nơi công nghệ ấy được tôi luyện để vươn ra thế giới.

Từ những cánh đồng ở nước Anh đến những ruộng lúa chịu sức ép xâm nhập mặn ở Đồng bằng sông Cửu Long, khoảng cách địa lý quả là rất xa. Nhưng con đường mà nước Anh bền bỉ theo đuổi - công nghệ giúp người nông dân tăng năng suất mà vẫn tiết kiệm tài nguyên - lại rất gần với điều Việt Nam đang mong mỏi. Điểm hẹn ấy dường như đã chín. Điều còn lại, như trong mọi câu chuyện phát triển, vẫn là sự kiên định để cùng nhau đi đến cùng./.

(TTXVN/Vietnam+)