Nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức phụ trách bầu cử ở địa phương
Ủy ban bầu cử cấp tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử trên địa bàn tỉnh, thành phố; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử của các Ban bầu cử và Tổ bầu cử...
Theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân (Luật Bầu cử), tại địa phương có ba tổ chức phụ trách bầu cử gồm: Ủy ban bầu cử, Ban bầu cử và Tổ bầu cử, với những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban bầu cử cấp tỉnh
Khoản 1 Điều 23 Luật Bầu cử quy định Ủy ban bầu cử cấp tỉnh có 12 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn trong bầu cử đại biểu Quốc hội.
Ủy ban bầu cử cấp tỉnh chịu trách nhiệm chỉ đạo công tác chuẩn bị và tổ chức bầu cử trên địa bàn tỉnh, thành phố; kiểm tra, đôn đốc việc thi hành pháp luật về bầu cử của các Ban bầu cử và Tổ bầu cử; chỉ đạo công tác thông tin, tuyên truyền, vận động bầu cử và bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội trong quá trình bầu cử.
Ủy ban bầu cử cũng tiếp nhận, xem xét hồ sơ người ứng cử và người tự ứng cử đại biểu Quốc hội tại địa phương, gửi danh sách và hồ sơ liên quan đến Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh để tiến hành hiệp thương; đồng thời gửi hồ sơ và danh sách người ứng cử đến Hội đồng bầu cử quốc gia.
Bên cạnh đó, cơ quan này lập danh sách người ứng cử theo đơn vị bầu cử để trình Hội đồng Bầu cử quốc gia quyết định; chỉ đạo, kiểm tra việc lập và niêm yết danh sách cử tri; tiếp nhận và phân phối phiếu bầu cử cho các Ban bầu cử đại biểu Quốc hội chậm nhất là 17 ngày trước ngày bầu cử; giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử.
Sau bầu cử, Ủy ban bầu cử cấp tỉnh nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử của các Ban bầu cử, lập biên bản kết quả bầu cử tại địa phương và báo cáo, chuyển hồ sơ, biên bản cho Hội đồng Bầu cử quốc gia; đồng thời tổ chức bầu cử thêm hoặc bầu cử lại theo quyết định của cơ quan này.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban bầu cử các cấp trong bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân
Điều 23 Luật Bầu cử cũng quy định 14 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban bầu cử các cấp trong bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân. Theo đó, Ủy ban bầu cử chịu trách nhiệm chỉ đạo tổ chức việc bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân ở cấp mình, quản lý và phân bổ kinh phí bầu cử; chỉ đạo công tác tuyên truyền, vận động bầu cử và bảo đảm an ninh, trật tự trong quá trình bầu cử.
Ủy ban bầu cử còn có nhiệm vụ ấn định và công bố các đơn vị bầu cử, số lượng đại biểu được bầu, tiếp nhận và xem xét hồ sơ ứng cử, gửi đến Ban Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp để tiến hành hiệp thương; lập và công bố danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân cấp mình theo từng đơn vị bầu cử, xóa tên người ứng cử trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Hội đồng Nhân dân cấp mình.
Ủy ban bầu cử các cấp nhận tài liệu, phiếu bầu từ Ủy ban Nhân dân cùng cấp và phân phối cho các Ban bầu cử chậm nhất là 17 ngày trước ngày bầu cử; nhận và kiểm tra biên bản xác định kết quả bầu cử; lập biên bản tổng kết cuộc bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân của cấp mình và chỉ đạo việc bầu cử thêm, bầu cử lại theo quy định của Luật Bầu cử.
Sau bầu cử, Ủy ban bầu cử xác nhận và công bố kết quả bầu cử, xác nhận tư cách đại biểu trúng cử, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến bầu cử và bàn giao hồ sơ, tài liệu cuộc bầu cử cho Thường trực Hội đồng Nhân dân cùng cấp khóa mới.
Nhiệm vụ, quyền hạn của Ban bầu cử
Theo Điều 24 Luật Bầu cử, Ban bầu cử có 9 nhóm nhiệm vụ, quyền hạn trong công tác bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng Nhân dân.
Ban bầu cử có nhiệm vụ kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện pháp luật về về bầu cử, việc lập, niêm yết danh sách cử tri và niêm yết danh sách những người ứng cử ở các Tổ bầu cử thuộc đơn vị bầu cử, chỉ đạo việc bố trí phòng bỏ phiếu, nhận và phân phối tài liệu, phiếu bầu cử cho các Tổ bầu cử chậm nhất là 13 ngày trước ngày bầu cử.
Cơ quan này cũng tổng hợp và kiểm tra biên bản kết quả kiểm phiếu của các Tổ bầu cử, lập biên bản xác định kết quả bầu cử tại đơn vị bầu cử, giải quyết khiếu nại, tố cáo liên quan đến công tác bầu cử và báo cáo tình hình tổ chức bầu cử với cơ quan phụ trách cấp trên; chuyển hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Quốc hội đến Ủy ban bầu cử ở tỉnh; hồ sơ, tài liệu về bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân đến Ủy ban bầu cử cùng cấp và tổ chức thực hiện việc bầu cử thêm, bầu cử lại (nếu có).
Nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ bầu cử
Theo khoản 2 Điều 25 Luật Bầu cử, Tổ bầu cử là đơn vị trực tiếp phụ trách công tác bầu cử trong khu vực bỏ phiếu. Tổ bầu cử có nhiệm vụ chuẩn bị phòng bỏ phiếu, hòm phiếu; nhận tài liệu và phiếu bầu từ Ban bầu cử; phát thẻ cử tri và phiếu bầu cho cử tri, đồng thời thường xuyên thông báo cho cử tri biết ngày bầu cử, địa điểm và thời gian bỏ phiếu (trong thời hạn 10 ngày trước ngày bầu cử).
Trong ngày bầu cử, Tổ bầu cử bảo đảm thực hiện đúng quy định pháp luật và nội quy phòng bỏ phiếu, giải quyết các khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, tổ chức kiểm phiếu, lập biên bản kết quả kiểm phiếu và chuyển toàn bộ hồ sơ, phiếu bầu cho Ủy ban Nhân dân cấp xã khi kết thúc việc kiểm phiếu; thực hiện việc bầu cử thêm hoặc bầu cử lại tại khu vực bỏ phiếu (nếu có)./.
