Nghị quyết số 68-NQ/TW khơi thông dư địa tăng trưởng mới
Tác động rõ nét nhất của Nghị quyết số 68 đối với khu vực kinh tế tư nhân là sự chuyển dịch từ trạng thái thích ứng để tồn tại sang trạng thái có khát vọng vươn lên.
Sau một năm đi vào thực tiễn, Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đang cho thấy những chuyển động đáng chú ý không chỉ ở phương diện chính sách, mà còn ở sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của cộng đồng doanh nghiệp.
Trong bối cảnh Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và giảm chi phí tuân thủ, những tác động này đang từng bước lan tỏa, góp phần tạo dư địa cho tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn tới.
Như Thủ tướng Lê Minh Hưng đã chỉ đạo, cắt giảm thủ tục, điều kiện kinh doanh là một giải pháp nhanh nhất, ngắn nhất tác động ngay tới tăng trưởng và củng cố niềm tin của người dân, doanh nghiệp; quá trình này là liên tục, nếu cuộc sống đòi hỏi thì phải tiếp tục triển khai.

Về tác động của Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân sau hơn một năm đi vào thực tiễn, Luật sư Bùi Văn Thành, Trưởng văn phòng Luật sư Mặt Trời Mới, Phó Chủ tịch thường trực Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA) nhìn nhận, việc xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là một tín hiệu chính sách mạnh mẽ. Sự thay đổi về vị thế đã dẫn đến thay đổi trong tư duy của doanh nghiệp và doanh nhân.
“Tác động rõ nét nhất của Nghị quyết số 68 đối với khu vực kinh tế tư nhân là sự chuyển dịch từ trạng thái thích ứng để tồn tại sang trạng thái có khát vọng vươn lên,” Luật sư Bùi Văn Thành, Trưởng văn phòng Luật sư Mặt Trời Mới, Phó Chủ tịch thường trực Liên chi hội Tài chính Khu công nghiệp Việt Nam (VIPFA) nhìn nhận.
Điều quan trọng nhất mà Nghị quyết số 68 tạo ra là niềm tin cho doanh nghiệp. Đây không chỉ là sự thay đổi về thể chế, mà còn là sự thay đổi về nhận thức, tư duy chiến lược về hoạt động đầu tư của doanh nghiệp tư nhân, doanh nhân và toàn bộ khu vực kinh tế tư nhân.

Sự gia tăng mạnh số doanh nghiệp thành lập mới, số doanh nghiệp quay trở lại hoạt động trong nửa cuối năm 2025 và quý 1 năm 2026 cho thấy tín hiệu tích cực về niềm tin gia nhập và tái gia nhập thị trường; tuy nhiên, quá trình chuyển hóa niềm tin này thành năng lực mở rộng quy mô, tăng vốn, đổi mới công nghệ và hình thành doanh nghiệp tư nhân lớn vẫn cần được kiểm chứng bằng dữ liệu trung hạn trong giai đoạn 2026-2030.
Một chuyển động đáng chú ý là doanh nghiệp tư nhân quan tâm đến thể chế nhiều hơn trước đây. Trong thời gian qua, doanh nghiệp theo dõi sát các thay đổi về pháp luật, cải cách thủ tục hành chính, chính sách đất đai, trái phiếu doanh nghiệp, tín dụng, thuế, đầu tư công và phát triển hạ tầng.
Điều này cho thấy doanh nghiệp đang nhìn nhận thể chế như một nguồn lực hỗ trợ phát triển, là tài sản để kinh doanh, thay vì một rào cản. Đây là bước chuyển quan trọng về tư duy trong hoạt động kinh doanh.
Tuy nhiên, để chuyển hóa niềm tin và sự thay đổi về nhận thức thành động lực tăng trưởng thực chất, yếu tố quyết định vẫn nằm ở tốc độ cải cách thể chế, đặc biệt là việc cắt giảm thủ tục hành chính và chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Những nỗ lực đẩy mạnh cải cách thể chế, đơn giản hóa thủ tục hành chính và giảm chi phí tuân thủ đang từng bước tháo gỡ các “điểm nghẽn” của nền kinh tế. Khi môi trường đầu tư, kinh doanh trở nên minh bạch, ổn định và dễ dự đoán hơn, dư địa tăng trưởng mới sẽ được mở ra, tạo nền tảng để Việt Nam hướng tới các mục tiêu phát triển cao trong giai đoạn 2026-2030.
Theo Luật sư Thành, bên cạnh những thành tựu nói trên, những hạn chế hoặc thách thức sau một năm thực hiện Nghị quyết số 68 có thể thấy, mặc dù đã có những chuyển động tích cực song doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn, đặc biệt là vốn trung và dài hạn.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp nhỏ chưa cảm nhận đầy đủ ý nghĩa và cơ hội từ các chính sách liên quan đến Nghị quyết số 68. Điều này cho thấy vai trò của công tác truyền thông, phổ biến chính sách và hỗ trợ doanh nghiệp vẫn rất quan trọng.
Một vấn đề khác là sự khác biệt trong hiệu quả thực thi chính sách giữa các địa phương. Có địa phương triển khai nhanh và quyết liệt, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển. Ngược lại, một số địa phương còn chậm trong cải cách thủ tục và hỗ trợ doanh nghiệp.
Ngoài ra, tâm lý e ngại rủi ro pháp lý vẫn tồn tại trong một bộ phận doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp lo ngại rằng việc mở rộng quy mô có thể kéo theo rủi ro về thanh tra, kiểm tra hoặc tranh chấp pháp lý.
Đây là tâm lý thực tế và cần được giải quyết thông qua việc hoàn thiện thể chế, tăng cường minh bạch và bảo đảm an toàn pháp lý cho hoạt động kinh doanh.
Cải cách thể chế sẽ không có ý nghĩa nếu không cải cách bộ máy thực thi. Vì vậy, trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng bộ máy công quyền, chuyên gia kinh tế Nguyễn Bích Lâm cho rằng, Chính phủ cần chuẩn hóa quy trình hành chính trên toàn quốc, siết chặt kỷ luật, kỷ cương, xây dựng văn hóa hành chính phục vụ; Minh bạch hoá toàn bộ quy trình xử lý thủ tục, đẩy mạnh chính phủ số, giảm tiếp xúc trực tiếp; Loại bỏ không gian cho chi phí không chính thức…
Đồng thời, việc cần làm là gắn trách nhiệm cá nhân của đội ngũ cán bộ, công chức với kết quả giải quyết công việc, đồng thời có chế tài xử lý nghiêm; Áp dụng chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) và mức độ hài lòng của doanh nghiệp trong đánh giá công chức, khi đó việc đánh giá hiệu quả chính sách và phân bổ nguồn lực trở nên minh bạch. Nếu bộ máy thực thi không thay đổi, mọi cải cách thể chế sẽ bị rơi rụng khi đi vào cuộc sống.
Tiến sỹ Phan Đức Hiếu - Đại biểu Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Kinh tế và Tài chính của Quốc hội cũng nhận định, Nghị quyết 68 đặt ra yêu cầu cải cách toàn diện và mạnh mẽ hơn, trong đó trọng tâm là đổi mới tư duy xây dựng và tổ chức thực thi pháp luật; xóa bỏ rào cản hành chính, cơ chế “xin-cho” và giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp.
Đáng chú ý, định hướng chính sách cũng nhấn mạnh việc ưu tiên áp dụng các biện pháp dân sự, kinh tế trong xử lý các quan hệ kinh tế; đồng thời xây dựng cơ chế đặc thù để xử lý các dự án tồn đọng kéo dài và bảo đảm nghĩa vụ thanh toán của khu vực công.
Ông Hiếu nhấn mạnh, thách thức lớn nhất hiện nay không chỉ nằm ở việc ban hành chính sách, mà ở khả năng triển khai hiệu quả trong thực tiễn, qua đó tạo môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi và minh bạch cho khu vực kinh tế tư nhân.
Nhìn tổng thể, sau một năm thực thi, Nghị quyết số 68 không chỉ tạo ra cú hích về niềm tin mà còn góp phần định hình lại cách khu vực kinh tế tư nhân tương tác với thể chế. Tuy nhiên, để chuyển hóa niềm tin thành năng lực cạnh tranh thực chất và đóng góp rõ nét hơn cho tăng trưởng, dư địa cải cách vẫn còn rất lớn, đặc biệt ở khâu thực thi và bảo đảm tính nhất quán trên toàn hệ thống.
Trong bối cảnh Chính phủ tiếp tục đẩy mạnh cắt giảm thủ tục hành chính, hoàn thiện thể chế và giảm chi phí tuân thủ, kỳ vọng về một môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch hơn đang dần được củng cố - qua đó tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn tới./.
