Nghị quyết 80-NQ/TW: Bước chuyển từ kêu gọi sang hành động để phát triển văn hóa

Yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là khẳng định về mặt tư tưởng, mà phải chuyển hóa các quan điểm lớn của Nghị quyết thành thể chế, chính sách, nguồn lực, mô hình quản trị trong đời sống.

Đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh quốc gia, sức mạnh nội sinh và khát vọng phát triển nhanh, bền vững. Trong bối cảnh ấy, Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị có ý nghĩa như một dấu mốc quan trọng, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy của Đảng về vị trí, vai trò của văn hóa và con người trong chiến lược phát triển đất nước.

Đó là nhận định của Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Công Tuấn, Phó Hiệu trưởng trường Đại học Văn hoá, Trưởng Ban Tổ chức hội thảo khoa học quốc gia “Phát triển văn hoá Việt Nam trong kỷ nguyên mới lý luận và thực tiễn tiếp cận từ Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị” ngày 15/4 tại Hà Nội.

Tầm nhìn mới để phát triển văn hóa Việt Nam

Hội thảo kết nối các nhà nghiên cứu, nhà quản lý, nghệ sỹ và doanh nghiệp trong việc trao đổi tri thức, chia sẻ kinh nghiệm và đề xuất chính sách. Hội thảo góp phần thúc đẩy quá trình cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu của Nghị quyết thành chương trình hành động thiết thực, qua đó khẳng định vai trò của văn hóa như nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Theo Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đinh Công Tuấn, các tham luận có sự đồng thuận rất cao trong việc khẳng định vị thế mới của văn hóa trong chiến lược phát triển đất nước. Cách tiếp cận nghiên cứu ngày càng cho thấy rõ tính liên thông giữa văn hóa với kinh tế, công nghệ, giáo dục, du lịch, đối ngoại và quản trị xã hội.

(Ảnh: PV/Vietnam+)

Ông Đinh Công Tuấn cho rằng yêu cầu đặt ra hiện nay không chỉ là tiếp tục khẳng định về mặt tư tưởng, mà phải chuyển hóa các quan điểm lớn của Nghị quyết thành thể chế, chính sách, nguồn lực, mô hình quản trị và kết quả thực chất trong đời sống.

“Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị là một văn kiện có ý nghĩa chiến lược, mở ra một tầm nhìn mới cho phát triển văn hóa Việt Nam. Tinh thần xuyên suốt của Nghị quyết là đưa văn hóa từ vị trí quan trọng trở thành vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước; đưa phát triển văn hóa từ cách tiếp cận từng lĩnh vực riêng lẻ sang cách tiếp cận hệ sinh thái, liên ngành, hiện đại và hướng tới hiệu quả thực chất,” ông Đinh Công Tuấn nhấn mạnh.

Nhìn nhận trực diện vào thực tiễn phát triển văn hóa thời gian qua, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội chỉ rõ một nghịch lý: Ở nhiều nơi, văn hóa vẫn là lĩnh vực chịu sức ép cắt giảm đầu tư đầu tiên khi ngân sách khó khăn. Đầu tư cho văn hóa còn thấp, phân tán và nặng về cấp phát bình quân.

Chính vì vậy, sự ra đời của Nghị quyết 80-NQ/TW đánh dấu một bước chuyển mang tính bước ngoặt. Theo Phó Giáo sư-Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, đây là thời điểm cần thay đổi tư duy từ chỗ đơn thuần nhấn mạnh vai trò của văn hóa sang tư duy "kiến tạo hành lang pháp lý." Chúng ta không thể chỉ dừng lại ở việc kêu gọi tình yêu văn hóa, mà phải trả lời bằng các hành động thực tiễn: Văn hóa sẽ được đầu tư bằng cơ chế nào? Được bảo vệ bằng công cụ pháp lý nào? Và được thúc đẩy bằng nguồn lực từ đâu?

Tháo gỡ các điểm nghẽn ‘sinh tử’

Để hiện thực hóa tầm nhìn này, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh trọng tâm của quá trình thể chế hóa là phải tháo gỡ 5 điểm nghẽn “sinh tử” đang cản trở sự phát triển. Đó là việc khơi thông nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước; xử lý linh hoạt bài toán quy hoạch và quỹ đất cho các không gian sáng tạo; ban hành các ưu đãi tài chính (thuế, phí) để hình thành thị trường văn hóa lành mạnh; đa dạng hóa mô hình quản trị (hợp tác công-tư) để làm “sống dậy” các thiết chế văn hóa; và đặc biệt là chính sách đãi ngộ nhân tài.

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên Thường trực Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Việc thu hút và giữ chân nhân lực văn hóa không phải là chính sách phúc lợi đơn thuần, mà chính là đầu tư cho sức sống lâu dài của nền văn hóa dân tộc.

"Một quốc gia muốn có vị thế trong thế giới hiện đại không thể chỉ hiện diện bằng hàng hóa, mà còn phải hiện diện bằng hình ảnh, bằng câu chuyện, bằng di sản, bằng nghệ thuật, bằng sức hấp dẫn văn hóa," Phó Giáo sư-Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn nhấn mạnh.

Tháo gỡ điểm nghẽn không chỉ giải quyết câu chuyện nội sinh mà còn là chìa khóa để kiến tạo sức mạnh mềm của Việt Nam. Đó là một luận điểm được Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Văn Kim (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) trình bày tại hội thảo.

Ông Nguyễn Văn Kim cho rằng việc bảo tồn không đồng nghĩa với “đóng băng” di sản. Nếu chỉ khư khư giữ lấy các công trình lịch sử mà không đặt chúng vào một hệ sinh thái hiện đại thì di sản đó sẽ tự lụi tàn.

Giáo sư-Tiến sỹ Nguyễn Văn Kim (Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội). (Ảnh: PV/Vietnam+)

Ông đưa ra các ví dụ thực tiễn chứng minh di sản là một cỗ máy tạo ra nguồn lực khổng lồ: Khu dự trữ sinh thái Tràng An đã đóng góp 5.500 tỷ đồng cho tỉnh Ninh Bình; Vịnh Hạ Long cũng từng thu về hơn 1.200 tỷ đồng tiền phí tham quan thời điểm trước đại dịch. Việt Nam đang đặt kỳ vọng rất lớn vào việc các ngành công nghiệp văn hóa sẽ đóng góp khoảng 7% GDP vào năm 2030.

Hơn thế nữa di sản tạo ra một ngôn ngữ chung giúp Việt Nam vươn xa trên mạng lưới hợp tác toàn cầu. Trường hợp Hoàng thành Thăng Long được UNESCO đánh giá là một hình mẫu hợp tác quốc tế điển hình. Chưa bao giờ trong lịch sử hơn 50 năm của tổ chức này lại có một di sản thế giới được thay đổi hiện trạng trong vùng lõi nhưng vẫn tuân thủ nghiêm ngặt các quy định bảo tồn quốc tế. Một quốc gia muốn có vị thế không thể chỉ hiện diện bằng hàng hóa xuất khẩu mà phải chinh phục thế giới bằng hình ảnh, di sản và sức hấp dẫn văn hóa.

Nếu thể chế là khung bệ vững chắc, thì truyền thông chính là “đôi cánh” để các giá trị văn hóa vươn xa trong kỷ nguyên mới. Khai thác sâu khía cạnh này, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đỗ Chí Nghĩa (Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội) đã mang đến một góc nhìn sắc sảo về sự dịch chuyển của truyền thông đương đại.

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đỗ Chí Nghĩa (Ủy viên Ủy ban Văn hóa, Giáo dục của Quốc hội). (Ảnh: PV/Vietnam+)

Theo đó, Nghị quyết 80-NQ/TW không chỉ xem truyền thông là công cụ tuyên truyền, mà đã đặt lĩnh vực này như một phần nội hàm hữu cơ của văn hóa. Các sản phẩm nghệ thuật, di sản hay thông điệp văn hóa muốn bước ra khỏi không gian lưu trữ để chạm đến công chúng, thì vai trò của các phương tiện truyền thông và mạng xã hội là yếu tố mang tính quyết định.

Hơn thế nữa, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Đỗ Chí Nghĩa nhấn mạnh rằng truyền thông hiện nay không chỉ thúc đẩy văn hóa phát triển, mà đang trực tiếp tạo ra những giá trị văn hóa mới. Trong bối cảnh chuyển đổi số, việc xây dựng hệ giá trị quốc gia và định vị con người Việt Nam sẽ phụ thuộc rất lớn vào cách truyền thông dẫn dắt, khơi gợi và kiến tạo sự kết nối giữa các cơ quan quản lý, nghệ sỹ, doanh nghiệp và cộng đồng.

Một minh chứng cho vai trò của truyền thông trong phát triển văn hóa là sự hợp tác giữa Giải Cống hiến của báo Thể thao và Văn hóa (Thông tấn xã Việt Nam) và Giải thưởng Âm nhạc Nhật Bản (MAJ) của Hiệp hội Xúc tiến Ngành Văn hóa Giải trí Nhật Bản (CEIPA).

Ban Tổ chức Giải thưởng Cống hiến trao kỷ niệm chương cho nhạc sỹ Dương Thụ, ca sỹ Tùng Dương, ca sỹ Mỹ Tâm, nhà báo Ngô Hà Thái (nguyên Phó Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam) và nhà báo Hữu Thỉnh. (Ảnh: Hoàng Hiếu/TTXVN)

Trong tham luận của mình, nhóm tác giả Bùi Hữu Thắng (Trung tâm Nội dung số và Truyền thông, Thông tấn xã Việt Nam) và Tiến sỹ Đỗ Thị Thu Thủy (Khoa Viết văn-Báo chí, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội) cho hay cơ chế trao đổi chuyên gia, hợp tác tổ chức và vinh danh nghệ sỹ đã góp phần phát huy hiệu quả chức năng ngoại giao văn hóa, đưa hoạt động giải thưởng trở thành một kênh kết nối sáng tạo giữa Việt Nam và khu vực.

Việc chủ động thiết lập hợp tác với tư thế "ngang hàng" với các đối tác lớn như Nhật Bản sẽ giúp các công ty giải trí trong lĩnh vực âm nhạc, các nghệ sỹ của Việt Nam và Nhật Bản có điều kiện được giao lưu, học hỏi và tiếp cận với ngành công nghiệp âm nhạc của nhau. Từ đó, hình thành tiền đề cho các dự án âm nhạc chung, các cơ hội hợp tác và đầu tư trong lĩnh vực âm nhạc, kinh doanh sản phẩm âm nhạc.

Cũng theo các nhà nghiên cứu, mô hình hợp tác này còn gửi đi một thông điệp mạnh mẽ về vai trò của các cơ quan báo chí chủ lực - những đơn vị không chỉ làm nhiệm vụ thông tin, mà còn đóng vai trò là "nhà kiến tạo" và "người điều phối" các nguồn lực sức mạnh mềm quốc gia.

Thông qua uy tín của mình, báo chí đã tạo ra chiếc cầu nối tin cậy, giúp các giá trị nghệ thuật dân tộc không bị hòa tan mà trái lại, còn được cộng hưởng và tỏa sáng trong môi trường quốc tế khắt khe. Việc nghệ sỹ Việt Nam tự tin đứng trên sân khấu lớn tại Nhật Bản, nhận được sự thẩm định và trân trọng từ giới chuyên môn hàng đầu châu Á, chính là niềm tự hào của một nền âm nhạc đang khát khao định vị bản thân.

Phó Giáo sư-Tiến sỹ Lê Hải Bình, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Giám đốc thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh kết luận hội thảo. (Ảnh: PV/Vietnam+)

Phát biểu bế mạc hội thảo, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Lê Hải Bình, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Phó Giám đốc thường trực Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh khẳng định mỗi di sản, mỗi tác phẩm nghệ thuật đều đang khát khao chờ đợi những “mã lệnh từ thể chế” để khơi thông nguồn lực.

Ông bày tỏ kỳ vọng về một tương lai nơi văn hóa được đặt ngang hàng với kinh tế và chính trị, để mỗi người dân Việt Nam không chỉ tự hào về quá khứ mà còn được “thụ hưởng văn hóa, ứng xử với nhau một cách nhân văn nhất” trong kỷ nguyên mới./.

(Vietnam+)