Nghị quyết 57-NQ/TW: Tăng kỹ năng cho nông dân làm nông nghiệp số
Phong trào "Bình dân học vụ số" sẽ góp phần xây dựng người nông dân số, hợp tác xã số và nền kinh tế số nông nghiệp, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Đồng Tháp.
Thực hiện phong trào "Bình dân học vụ số," Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp xác định việc phổ cập kỹ năng số cho người dân, đặc biệt là thành viên hợp tác xã, hội quán và người lao động trong lĩnh vực nông nghiệp, là một trong những nhiệm vụ quan trọng để đưa chuyển đổi số đi vào thực chất, gắn với sản xuất và đời sống.
Đưa chuyển đổi số vào sản xuất và đời sống
Ông Nguyễn Văn Kiệt, Phó Giám đốc Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp cho biết trong quá trình triển khai phong trào "Bình dân học vụ số," Sở Nông nghiệp và Môi trường chú trọng cách làm theo hướng thiết thực, dễ tiếp cận, lấy nhu cầu thực tế của hợp tác xã, hội quán và người dân làm cơ sở để lựa chọn nội dung đào tạo.
Sở Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp với các địa phương, các ban, ngành liên quan lồng ghép nội dung kỹ năng số vào các chương trình tập huấn, sinh hoạt định kỳ của hợp tác xã, hội quán. Nội dung không chỉ tập trung vào những kỹ năng cơ bản như sử dụng điện thoại thông minh, Internet, các ứng dụng trao đổi thông tin mà từng bước hướng dẫn người dân khai thác thông tin phục vụ sản xuất, tiếp cận thông tin thị trường, ứng dụng các nền tảng số trong quản lý sản xuất, truy xuất nguồn gốc và tiêu thụ nông sản…
Kết quả bước đầu cho thấy cách làm này đã mang lại những chuyển biến tích cực. Đến nay, có 314 hợp tác xã nông nghiệp và trên 120 hội quán với hơn 79.000/95.000 thành viên, người lao động, đạt khoảng 85%, có kiến thức cơ bản về công nghệ số, kỹ năng số, sử dụng thiết bị thông minh để phục vụ sản xuất, kinh doanh và nâng cao năng suất lao động. Sở cũng đã phối hợp với Liên minh Hợp tác xã tỉnh, các sở, ngành và địa phương tổ chức nhiều hình thức đào tạo, hướng dẫn khác nhau.

Đặc biệt, trong năm 2025, đơn vị đã tổ chức 19 lớp tập huấn về nhật ký sản xuất, phần mềm quản lý bán hàng, ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo trong xúc tiến thương mại, livestream và bán hàng trên các kênh thương mại điện tử, với (trên 560 học viên tham dự); 25 lớp tập huấn về các quy định đối với thị trường xuất khẩu nông sản, hướng dẫn sử dụng nhật ký canh tác, quản lý vùng trồng phục vụ truy xuất nguồn gốc, với 869 lượt nông dân tham dự. Đồng thời, tổ chức 12 lớp tập huấn ứng dụng phần mềm truy xuất nguồn gốc nông sản chủ lực, với 600 lượt nông dân tham gia.
Năm 2026, Sở tiếp tục phối hợp đào tạo, hướng dẫn cho trên 296 hợp tác xã, trong đó 133 lượt hợp tác xã được hướng dẫn ứng dụng công nghệ thông tin trong thực hiện Đề án 1 triệu ha lúa và 163 lượt hợp tác xã ứng dụng công nghệ thông tin vào quy trình sản xuất; có 142 hợp tác xã thực hiện truy xuất nguồn gốc, 21 hợp tác xã xây dựng mã số vùng trồng với 99 mã, diện tích 5.164 ha và gần 10.800 hộ thành viên tham gia.
Phát triển kinh tế số nông nghiệp
Một trong những nội dung được Sở Nông nghiệp và Môi trường chú trọng là ứng dụng công nghệ số trong truy xuất nguồn gốc và quản lý mã số vùng trồng. Đây là lĩnh vực rất phù hợp để đưa kỹ năng số đến với người dân bởi nó gắn trực tiếp với yêu cầu sản xuất và tiêu thụ nông sản hiện nay.
Thông qua việc sử dụng mã QR, cập nhật thông tin vùng sản xuất, quy trình canh tác, sản phẩm và quá trình thu hoạch, thành viên hợp tác xã từng bước hình thành thói quen ghi chép, cập nhật và quản lý thông tin sản xuất trên môi trường số.
Cho đến nay, Đồng Tháp có 229 hợp tác xã, hội quán được cấp mã số vùng trồng phục vụ thị trường nội địa và xuất khẩu; trong đó, có 208 hợp tác xã (887 vùng trồng, diện tích gần 173.000 ha) và 21 hội quán (46 vùng trồng, diện tích hơn 1.300 ha).
Tại xã Long Bình, Hợp tác xã Nông nghiệp tổng hợp Hòa Thạnh là một trong điểm sáng về ứng dụng khoa học công nghệ trong canh tác rau màu cũng như tích cực xúc tiến thương mại để tạo đầu ra ổn định cho sản phẩm rau an toàn của hợp tác xã.
Ông Nguyễn Thanh Quang, Giám đốc Hợp tác xã nông nghiệp tổng hợp Hòa Thạnh, xã Long Bình chia sẻ, Hợp tác xã hiện có 10 ha rau theo tiêu chuẩn VietGAP và diện tích liên kết với bên ngoài khoảng 15 ha rau an toàn. Sản lượng rau hàng năm của hợp tác xã khoảng 2.000 tấn cung cấp cho các siêu thị và các bếp ăn trong và ngoài tỉnh. Bên cạnh đó, Hợp tác xã bao tiêu toàn bộ sản phẩm đầu ra cho người dân với giá sàn cao hơn thị trường khoảng 20-30%.

Quy trình sản xuất rau an toàn theo tiêu chuẩn VietGAp được các xã viên tuân thủ nghiêm nhặt nhằm đảm bảo chất lượng sản phẩm cũng như tiết kiệm chi phí sản xuất, đặc biệt là nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm rau thương phẩm. Cùng đó, hợp tác xã cũng đầu tư các máy móc đóng gói tự động để đảm bảo chất lượng rau an toàn khi đến tay người tiêu dùng.
Thạc sỹ Lưu Thanh Mỹ, chuyên viên Phòng Kinh tế xã Long Bình, tỉnh Đồng Tháp thông tin, định hướng trong thời gian tới, Phòng Kinh tế sẽ tham mưu cho Ủy ban Nhân dân xã định hướng mở rộng quy hoạch vùng sản xuất rau theo hướng an toàn để đảm bảo nguyên liệu cho thị trường. Đồng thời, Phòng Kinh tế sẽ chuyển giao khoa học kỹ thuật cho người dân áp dụng để sản xuất rau an toàn, mở rộng diện tích sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP để người dân cung cấp rau an toàn cho hợp tác xã, mở rộng thị trường tiêu thụ.
Phường Mỹ Phong là một trong những vùng sản xuất cây ăn trái trọng điểm của tỉnh Đồng Tháp, có vùng chuyên canh bưởi da xanh với khoảng 385 ha bưởi da xanh, sản lượng 6.160 tấn/năm, cùng khoảng 1.500 hộ tham gia sản xuất. Phường có Hợp tác xã Mỹ Phong với 124 thành viên, Hội quán bưởi da xanh Mỹ Phú với 23 thành viên, Tổ hợp tác Bưởi da xanh Bình Thành-Bình Lợi với 42 thành viên góp phần thúc đẩy liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trái bưởi da xanh.
Vùng bưởi da xanh Mỹ Phong hiện đã được cấp 5 mã số vùng trồng phục vụ xuất khẩu sang Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Australia với quy mô 200 hộ, diện tích 103,85 ha cùng 1 mã số vùng trồng phục vụ thị trường nội địa.
Sản phẩm bưởi da xanh đã từng bước tham gia thị trường xuất khẩu, đặc biệt ngày 14/4/2026 Hội quán nông dân Mỹ Phú đã tổ chức xuất khẩu thành công lô hàng 1 tấn bưởi da xanh sang thị trường Australia, tạo tiền đề quan trọng cho việc mở rộng thị trường quốc tế trong thời gian tới.
Bà Nguyễn Thị Đầm, phường Mỹ Phong có 0,6 ha bưởi da xanh đạt chuẩn xuất khẩu phấn khởi cho biết: Các hội viên trong hội quán rất phấn khởi vì giá trị trái bưởi tăng gấp nhiều lần sau khi xuất khẩu sang Australia. Để trái bưởi da xanh đạt chuẩn xuất khẩu thì người trồng cần phải sản xuất theo quy trình như áp dụng theo tiêu chuẩn VietGAP, bón phân hữu cơ để đảm bảo sản phẩm trái bưởi đạt các tiêu chuẩn theo yêu cầu của đối tác.
Ông Huỳnh Văn Hiếu, Chủ nhiệm Hội quán bưởi da xanh Mỹ Phú, xã Mỹ Phong chia sẻ: Nhằm đảm bảo trái bưởi da xanh tiếp tục được xuất khẩu sang Australia cũng như các nước khác, Ban Chủ nhiệm Hội quán kết hợp với Hội Nông dân xã Mỹ Phong vận động các hội viên cần tuân thủ nghiêm nhặt quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, tăng cường sử dụng phân vi sinh, phân hữu cơ để đáp ứng các yêu cầu ngày càng khắt khe của thị trường tiêu thụ.
Các hội viên của Hội quán bưởi da xanh Mỹ Phú đang tăng cường thay đổi công tác ghi chép nhật ký sản xuất từ thực hiện thủ công sang ứng dụng nhật ký điện tử và các nền tảng số trong quản lý sản xuất để phục vụ công tác truy xuất nguồn gốc, kiểm soát chất lượng sản phẩm.
Không dừng lại ở truy xuất nguồn gốc, Sở Nông nghiệp và Môi trường cũng chú trọng đưa kỹ năng số vào quảng bá và tiêu thụ sản phẩm. Việc hướng dẫn hợp tác xã sử dụng các nền tảng thương mại điện tử, livestream, mạng xã hội và các công cụ số trong xúc tiến thương mại đã giúp các hợp tác xã từng bước chuyển từ tư duy chỉ sản xuất sang sản xuất gắn với thị trường.
Đặc biệt, việc hỗ trợ cấp mới hơn 6.600 tên miền".vn" cho doanh nghiệp và hộ kinh doanh để hiện diện trực tuyến, cùng với việc 100% doanh nghiệp thực hiện khai thuế qua mạng, cho thấy môi trường kinh doanh số đang ngày càng trở thành một phần thiết yếu trong hoạt động của khu vực kinh tế nông nghiệp.
Song song với đào tạo kỹ năng số, ngành Nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp cũng từng bước đưa các công nghệ mới vào hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất. Đồng Tháp hiện có 25 hệ thống giám sát sâu rầy thông minh được bố trí tại các vùng sản xuất lúa và cây ăn trái; dữ liệu được khai thác phục vụ dự tính, dự báo, giúp chính quyền, ngành chuyên môn và nông dân chủ động theo dõi, quản lý dịch hại. Ngành cũng ứng dụng thí điểm hệ sinh thái nền tảng nông nghiệp số VDAPES trong theo dõi, tổng hợp, báo cáo tình hình sản xuất, mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói.

Một kết quả khác đáng chú ý là Sở Nông nghiệp và Môi trường đã lồng ghép nguồn lực từ Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới và tái cơ cấu nông nghiệp. Hiện có 58 hợp tác xã ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc tại 58 xã nông thôn mới nâng cao. Đồng thời, kết quả cấp mã số vùng trồng, cơ sở đóng gói được công khai trên Cổng thông tin của Sở để hỗ trợ kết nối tiêu thụ nông sản có nguồn gốc.
Ngành cũng phát hành 40 bản tin thời tiết nông vụ, 96 bản tin 10 ngày và 08 bản tin tháng định kỳ đến người dân thông qua các nhóm Zalo, giúp nông dân có thêm thông tin phục vụ sản xuất và phòng trừ sâu bệnh.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thiết lập và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói được áp dụng đạt khoảng 60% nhằm theo dõi và kiểm soát sinh vật gây hại, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững góp phần đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu.
Theo kế hoạch, Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp sẽ tiếp tục tổ chức 10 lớp tập huấn chung về chuyển đổi số, công nghệ số cho khoảng 500 học viên; 2 lớp tập huấn ứng dụng phần mềm Nhật ký sản xuất cho khoảng 60 học viên và 8 lớp hướng dẫn ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết lập, cấp, quản lý mã số vùng trồng và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Theo Phó Giám đốc Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Đồng Tháp Nguyễn Văn Kiệt, thời gian tới, Sở mong muốn tiếp tục nhận được sự quan tâm, phối hợp của các sở, ngành, địa phương, doanh nghiệp công nghệ, các cơ sở đào tạo và đặc biệt là cộng đồng hợp tác xã, Hội quán để phong trào "Bình dân học vụ số" ngày càng đi vào chiều sâu, từ biết sử dụng công nghệ đến biết khai thác dữ liệu, từ sản xuất truyền thống đến sản xuất số, từ truy xuất nguồn gốc đến thương mại số.
Qua đó, phong trào "Bình dân học vụ số" sẽ góp phần xây dựng người nông dân số, hợp tác xã số và nền kinh tế số nông nghiệp, nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của nông sản Đồng Tháp./.
