Ngành tôm nhận diện thách thức để bứt phá trong những tháng cuối năm
Ngành tôm nước lợ tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với xuất khẩu thủy sản, với tỷ trọng khoảng 40-45% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và thị trường tiêu thụ tại khoảng 100 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Ngày 15/10, tại phường Bạc Liêu, Cục Thủy sản và Kiểm ngư phối hợp với Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau tổ chức hội thảo chuyên đề bàn giải pháp bảo đảm kế hoạch sản xuất tôm nước lợ năm 2026.
Hội thảo tập trung đánh giá tình hình sản xuất tôm nước lợ, nhận diện những khó khăn, thách thức trong các tháng cuối năm; đồng thời đề xuất giải pháp kiểm soát dịch bệnh, quản lý môi trường, nâng cao tỷ lệ nuôi thành công và bảo đảm nguồn nguyên liệu phục vụ chế biến, xuất khẩu.
Phát biểu tại hội thảo, ông Trần Đình Luân, Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư, cho biết sau 9 tháng năm 2026, ngành tôm Việt Nam duy trì đà tăng trưởng tích cực, với sản lượng đạt hơn 1 triệu tấn.
Tuy nhiên, để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng cả năm và phát triển bền vững, ngành tôm cần tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn trong quản lý, sản xuất và tổ chức chuỗi giá trị.

Đáng chú ý, Đồng bằng sông Cửu Long chiếm khoảng 87% sản lượng tôm nước lợ của cả nước. Vì vậy, kết quả sản xuất tại khu vực này, đặc biệt là các địa phương trọng điểm như Cà Mau, Cần Thơ và An Giang, có ý nghĩa quyết định đối với việc hoàn thành kế hoạch chung. Thời gian từ nay đến cuối năm không còn nhiều, trong khi sản xuất tôm phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thời tiết, môi trường, dịch bệnh, chu kỳ nuôi và khả năng tiêu thụ sản phẩm.
Bên cạnh đó, diễn biến thời tiết cực đoan và nguy cơ El Nino đặt ra yêu cầu chủ động hơn trong quản lý nguồn nước, môi trường và phòng, chống dịch bệnh. Theo ông Luân, nếu kiểm soát tốt dịch bệnh, tổ chức sản xuất phù hợp và nâng cao tỷ lệ nuôi thành công trong giai đoạn khó khăn, ngành tôm có thể chủ động nguồn nguyên liệu, đồng thời tận dụng cơ hội thị trường khi nguồn cung thế giới biến động.
“Vấn đề đặt ra hiện nay không chỉ là sản xuất thêm được bao nhiêu tấn tôm, mà quan trọng hơn là tổ chức sản xuất như thế nào để nâng cao tỷ lệ sống, giảm thiểu thiệt hại, kiểm soát chi phí, bảo đảm chất lượng và hiệu quả cho người nuôi,” ông Trần Đình Luân nhấn mạnh.
Thông tin cụ thể về kết quả sản xuất, ông Ngô Thế Anh, Trưởng phòng Nuôi trồng Thủy sản-Cục Thủy sản và Kiểm ngư cho biết trong 9 tháng, diện tích thả nuôi tôm nước lợ đạt khoảng 741.300 ha, tương đương 98,8% kế hoạch. Sản lượng thu hoạch đạt hơn 1,072 triệu tấn, đạt 76,6% kế hoạch năm; trong đó, tôm thẻ chân trắng đạt khoảng 791.400 tấn, tôm sú đạt 281.500 tấn. Kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đạt trên 3,75 tỷ USD.
Ngành tôm nước lợ tiếp tục giữ vai trò quan trọng đối với xuất khẩu thủy sản, với tỷ trọng khoảng 40-45% kim ngạch xuất khẩu thủy sản và thị trường tiêu thụ tại khoảng 100 quốc gia, vùng lãnh thổ.
Theo kế hoạch năm 2026, ngành tôm nước lợ phấn đấu đạt sản lượng 1,4 triệu tấn. Như vậy, trong quý 4, toàn ngành cần thu hoạch thêm khoảng 327.200 tấn. Đây là nhiệm vụ đòi hỏi các địa phương phải rà soát diện tích đang nuôi, xác định sản lượng có thể thu hoạch theo từng vùng và chủ động phương án sản xuất phù hợp.
Theo ông Phạm Văn Mười, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, Cà Mau có thế mạnh đặc biệt về sản xuất và chế biến thủy sản; trong đó, tôm là ngành hàng chủ lực, đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, xuất khẩu, giải quyết việc làm và bảo đảm sinh kế cho người dân.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, hệ thống sông ngòi, kênh rạch dày đặc, vùng ven biển rộng lớn và các mô hình nuôi đa dạng, tỉnh đã hình thành nhiều vùng sản xuất tôm hàng hóa quy mô lớn, từng bước chuyển từ sản xuất nhỏ lẻ sang sản xuất hàng hóa, ứng dụng khoa học, công nghệ và tăng cường liên kết chuỗi giá trị.
Đối với mô hình lúa-tôm, tỉnh tiếp tục định hướng phát triển theo hướng thuận thiên, thích ứng với biến đổi khí hậu, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm. Toàn tỉnh hiện có khoảng 90.000ha lúa-tôm; việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, xây dựng vùng nguyên liệu đạt chuẩn và liên kết chuỗi giá trị đang được thúc đẩy.
Tại hội thảo, các nội dung tham luận cũng tập trung vào quản lý chất lượng tôm giống, phòng chống dịch bệnh và tổ chức sản xuất an toàn. Đây là những khâu có ảnh hưởng trực tiếp đến tỷ lệ sống, năng suất và hiệu quả của các vụ nuôi. Thực tế tại các địa phương cho thấy nguồn giống chưa đồng đều, sự phụ thuộc vào nguồn cung ngoài tỉnh và tình trạng giống không rõ nguồn gốc vẫn tiềm ẩn nguy cơ đối với sản xuất.
Vì vậy, việc tăng cường kiểm tra cơ sở sản xuất, ương dưỡng và kinh doanh tôm giống, kiểm soát nguồn gốc, chất lượng và mầm bệnh cần được thực hiện thường xuyên. Cùng với đó, liên kết giữa người nuôi, hợp tác xã, doanh nghiệp cung ứng vật tư và cơ sở chế biến cần được củng cố. Việc hình thành vùng nguyên liệu ổn định, áp dụng tiêu chuẩn sản xuất phù hợp và tăng cường truy xuất nguồn gốc sẽ góp phần đáp ứng yêu cầu của thị trường, nâng cao giá trị tôm nguyên liệu.
Mặt khác, sản xuất đang chịu sức ép từ chi phí đầu vào, yêu cầu ngày càng cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và cạnh tranh quốc tế. Cùng đó là chất lượng tôm giống giữa các cơ sở chưa đồng đều; con giống lưu thông qua nhiều khâu trung gian nên khó kiểm soát được chất lượng. Bên cạnh đó, việc tổ chức sản xuất và liên kết chuỗi chưa được chặt chẽ, quy mô sản xuất còn nhỏ lẻ, chưa hình thành vùng nguyên liệu ổn định.
Bên cạnh yêu cầu về sản lượng, công tác phòng, chống dịch bệnh và quản lý môi trường tiếp tục là những vấn đề cần ưu tiên. Các diễn biến bất lợi của thời tiết, biến động nhiệt độ, độ mặn và chất lượng nguồn nước có thể làm gia tăng nguy cơ phát sinh dịch bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe tôm nuôi và hiệu quả sản xuất. Vì vậy, việc tăng cường quan trắc, cảnh báo sớm và hướng dẫn người nuôi thực hiện các biện pháp an toàn sinh học có ý nghĩa quan trọng trong giai đoạn cuối năm.

Cục trưởng Cục Thủy sản và Kiểm ngư Trần Đình Luân cũng đề nghị các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu và các hội, hiệp hội chia sẻ thông tin về nhu cầu nguyên liệu, yêu cầu chất lượng, xu hướng thị trường và khả năng tiêu thụ trong những tháng cuối năm.
Trên cơ sở đó, các địa phương, doanh nghiệp và người nuôi cần tăng cường phối hợp, tổ chức sản xuất gắn với nhu cầu thị trường, hạn chế tình trạng sản xuất thiếu định hướng, góp phần ổn định đầu ra và nâng cao giá trị sản phẩm.
Để tháo gỡ các điểm nghẽn, Cục trưởng Trần Đình Luân đề nghị tăng cường quản lý, minh bạch nguồn gốc và đẩy mạnh truy xuất xuất xứ sản phẩm. Cục đang thúc đẩy xây dựng ứng dụng đăng ký mã số cơ sở nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho quản lý vùng nuôi và truy xuất nguồn gốc.
Khi lô hàng xuất khẩu bị cảnh báo, cần xác định chính xác nguyên nhân, truy xuất đến trang trại và lô giống liên quan để có biện pháp xử lý phù hợp. Cùng với đó, ngành tôm cần chuẩn hóa quy trình kỹ thuật, ứng dụng công nghệ sinh học và vi sinh một cách hiệu quả, thực chất; đồng thời củng cố vai trò của hợp tác xã, tổ hợp tác trong kết nối người nuôi với nhà khoa học, doanh nghiệp cung ứng vật tư và doanh nghiệp chế biến.
Theo ông Luân, sức cạnh tranh của tôm Việt Nam không chỉ phụ thuộc vào từng cơ sở nuôi hay doanh nghiệp riêng lẻ, mà cần sự phối hợp đồng bộ giữa người nuôi, cơ quan quản lý, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp. Việc đổi mới tư duy sản xuất, kiểm soát tốt đầu vào và tăng cường liên kết chuỗi sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh của ngành tôm Việt Nam./.
