Nền công nghiệp concert: Từ cảm xúc nhất thời đến giá trị kinh tế bền vững
Từ câu chuyện concert, hội thảo đặt ra yêu cầu rộng hơn đối với công nghiệp văn hóa Việt Nam: Không chỉ tạo ra những sự kiện thu hút đông đảo khán giả, mà phải xây dựng được sản phẩm có bản sắc.
Thị trường concert tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ với các sự kiện quy mô lớn hàng vạn người. Tuy nhiên, đằng sau không khí cuồng nhiệt đó là bài toán về duy trì sức hút, hạ tầng kỹ thuật và cơ chế quản lý.
Tại Hội thảo “Công nghiệp concert và giải trí: Từ bùng nổ đến bền vững” trong khuôn khổ Tuần lễ Tổ chức Sự kiện và Triển lãm Việt Nam (VEEW) 2026, diễn ra ngày 18/10 tại Hà Nội, các chuyên gia, nhà quản lý cùng những người làm nghề đã đi sâu phân tích bức tranh toàn cảnh, bóc tách từng "điểm nghẽn" và đề xuất lộ trình chiến lược cho nền công nghiệp biểu diễn Việt Nam.
Nghệ thuật biểu diễn vẫn còn 'mắc kẹt'
Nghị quyết 80-NQ/TW của Bộ Chính trị đặt ra mục tiêu rất rõ là: Từ nay đến năm 2030 phát triển các ngành công nghiệp văn hoá đóng góp 7% GDP; hình thành từ 5-10 thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hoá, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang...
Các chuyên gia cho rằng mục tiêu này hoàn toàn khả thi song vẫn còn khoảng trống về bộ chỉ số và bài toán định lượng của các sản phẩm văn hóa có thể xuất khẩu.

Ông Lê Quốc Vinh, Chủ tịch Le Bros cùng các diễn giả chỉ ra rằng nhiều chương trình gây chú ý gần đây vẫn phụ thuộc lớn vào các format nhập khẩu hoặc nghệ sỹ quốc tế. Đây về bản chất là việc "nhập khẩu văn hóa" để giải quyết nhu cầu giải trí nhanh chứ chưa tạo ra được những sản phẩm mang bản sắc Việt Nam đủ sức xuất khẩu ra thế giới.
Thêm vào đó, thói quen tổ chức các đêm nhạc miễn phí từ các doanh nghiệp bất động sản hay ngân hàng nhằm mục đích quảng bá sản phẩm đã vô tình tạo ra tâm lý thụ động cho khán giả, làm suy yếu các đơn vị kinh doanh bán vé thuần túy.
Bên cạnh đó, mô hình tổ chức tại nhiều địa phương vẫn "mắc kẹt" trong tư duy "sân khấu hóa" rập khuôn.

Nghệ sỹ Nhân dân Trần Ly Ly đã thẳng thắn mổ xẻ công thức quen thuộc của các chương trình nghệ thuật truyền thống: Lễ nghi kéo dài, dảnh thời lượng lớin để cho các phát biểu, kịch bản thường chia thành 3 chương theo trục thời gian từ quá khứ đến tương lai, các đội ngũ/tiết mục biểu diễn bị lặp lại.
Việc các địa phương chạy theo phong trào dàn hàng ngang, dàn trải nguồn lực mà thiếu đi tính liên kết vùng văn hóa đã khiến các sự kiện bị trùng lặp, thiếu cá tính và không giữ chân được du khách.
Đạo diễn Việt Tú thì cho rằng sự bùng nổ của concert hiện nay mới phản ánh một phần chuyển động của thị trường. Để đánh giá hiệu quả và xác định lĩnh vực cần ưu tiên đầu tư, cần có bộ chỉ số đo lường cụ thể, từ đóng góp kinh tế đến tác động đối với các ngành liên quan. Ông cũng lưu ý cần nhìn nhận công nghiệp văn hóa trong mối liên hệ với du lịch và các lĩnh vực dịch vụ, thay vì chỉ tập trung vào doanh thu của nghệ sỹ và đơn vị tổ chức.

Đạo diễn Phạm Hoàng Nam nhấn mạnh bản chất của công nghiệp biểu diễn và công nghiệp văn hóa là một ngành kinh tế đặc thù. Điểm ưu việt của lĩnh vực này là không làm tiêu hao tài nguyên thiên nhiên mà khai thác trực tiếp từ trí tuệ và năng lực sáng tạo vượt trội của con người. Dù vậy, trước đà tăng trưởng nóng của các đêm nhạc thu hút hàng chục nghìn người tham dự, thị trường vẫn đang thiếu đi yếu tố cốt lõi là bộ chỉ số đo đếm cụ thể.
Ông đặt vấn đề về việc làm thế nào để đánh giá chính xác hiệu quả kinh tế khi chưa có các tiêu chí định lượng rõ ràng, tiêu biểu như mục tiêu đóng góp 7% GDP vào năm 2030 vẫn chưa xác định được ngành nào hay chuỗi sản phẩm nào sẽ đóng vai trò chủ lực.
Từ cảm xúc nhất thời đến nền công nghiệp bền vững
Các diễn giả đồng quan điểm rằng sự bùng nổ concert hiện tại chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc đáp ứng nhu cầu nội địa, mang lại doanh thu trước mắt cho nghệ sỹ, nhà tổ chức hoặc chủ đầu tư địa điểm. Để tạo ra tác động kinh tế lan tỏa thực sự đến địa phương và các ngành liên quan, công nghiệp concert bắt buộc phải gắn kết chặt chẽ và tương hỗ với ngành du lịch, thay vì chỉ tạo ra hiệu ứng nhất thời.

Dưới góc độ quản lý, Nghệ sỹ Nhân dân Trần Ly Ly cho rằng công nghiệp văn hóa muốn tạo ra giá trị kinh tế thực sự không thể hoạt động đơn lẻ mà phải nằm trong một hệ sinh thái tuần hoàn. Giá trị của một đêm diễn không chỉ nằm ở tấm vé vài trăm nghìn đồng mà còn ở chuỗi dịch vụ phụ trợ đi kèm như khách sạn, ẩm thực, mua sắm và giao thông vận tải.
Sự đứt gãy giữa ngành du lịch, nghệ thuật biểu diễn và các đơn vị nghiên cứu chính là rào cản ngăn dòng chảy kinh tế vận hành liền mạch.
Đồng thời, thay vì chia cắt sản phẩm theo địa giới hành chính thông thường, việc quy hoạch phát triển văn hóa cần được tiếp cận theo không gian vùng văn hóa. Những không gian đặc trưng như vùng chèo Bắc Bộ hay vùng văn hóa Tây Nguyên chính là cốt lõi để tạo nên bản sắc độc bản. Việc tập trung khai thác chiều sâu văn hóa bản địa kết hợp với tư duy dàn dựng hiện đại sẽ là chìa khóa để thu hút du khách quay trở lại, nâng tỷ lệ khách quốc tế tái ghé thăm Việt Nam lên mức cao hơn.
Từ góc nhìn của người trực tiếp đứng phía sau sân khấu, nhạc sỹ Dương Cầm nhận định thị trường Việt Nam mới chỉ bắt đầu hình thành các êkip sản xuất chuyên nghiệp trong vài năm trở lại đây. Mặc dù đã có bước tiến về mặt nhân sự kỹ thuật, ngành biểu diễn vẫn đang đối mặt với những thiếu hụt trầm trọng về mặt hạ tầng và chính sách hỗ trợ.

Từ kinh nghiệm sản xuất, đạo diễn Việt Tú đã đúc kết ba rào cản lớn nhất đối với các đơn vị sản xuất hiện nay.
Thứ nhất là sự thiếu hụt các trung tâm biểu diễn và sân vận động đạt chuẩn quốc tế về tải trọng, hệ thống điện nước cũng như hạ tầng kỹ thuật tự động khiến việc thi công kéo dài và gia tăng rủi ro an toàn.
Thứ hai là vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ còn lỏng lẻo, tình trạng sao chép ý tưởng trong các đợt đấu thầu vẫn diễn ra phổ biến.
Cuối cùng là rủi ro tài chính khi các agency nhỏ lẻ thường xuyên chịu áp lực bị chôn vốn, chậm thanh toán từ đối tác và phụ thuộc quá lớn vào nguồn kinh phí tài trợ.
Các chuyên gia đồng quan điểm rằng sự bùng nổ của các concert thời gian qua là tín hiệu tích cực, đánh dấu bước chuyển mình của thị trường giải trí trong nước.
Tuy nhiên, để biến làn sóng này thành một nền công nghiệp biểu diễn bền vững, việc hoàn thiện hành lang pháp lý, minh bạch chỉ số đo đếm, chuẩn hóa hạ tầng kỹ thuật và bảo vệ bản quyền trí tuệ là những nhiệm vụ cấp thiết. Khi những "mắt xích" này được kết nối đồng bộ, các sản phẩm văn hóa Việt Nam không chỉ khẳng định vị thế trên sân nhà mà còn sẵn sàng vươn tầm ra thị trường quốc tế.
Từ câu chuyện concert, hội thảo đặt ra yêu cầu rộng hơn đối với công nghiệp văn hóa Việt Nam: Không chỉ tạo ra những sự kiện thu hút đông đảo khán giả, mà phải xây dựng được sản phẩm có bản sắc, thị trường ổn định và mô hình kinh doanh đủ sức tái đầu tư. Đây là cơ sở để chuyển sự sôi động của hoạt động biểu diễn thành động lực phát triển bền vững./.

