Mục tiêu tăng trưởng hai con số: Không thể chỉ trông vào vốn ngân hàng
Tín dụng toàn nền kinh tế tăng gần 8% sau hơn nửa đầu năm 2026, tương đương khoảng 1,46 triệu tỷ đồng. Các chuyên gia cho rằng cần sớm phát triển thị trường vốn để giảm phụ thuộc vào ngân hàng.
Hơn nửa đầu năm 2026, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng.
Tuy nhiên, khi nhu cầu vốn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số ngày càng lớn, các chuyên gia cho rằng thị trường vốn cần phát triển nhanh hơn để chia sẻ gánh nặng cung ứng vốn trung và dài hạn với hệ thống ngân hàng.
Ngân hàng "bơm" 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế
Phát biểu tại Hội thảo "Giải pháp phát triển đồng bộ thị trường vốn" do Tạp chí Nhà đầu tư tổ chức ngày 23/7, bà Hà Thu Giang, Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế Ngân hàng Nhà nước cho biết đến ngày 13/7/2026, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt gần 20,1 triệu tỷ đồng, tăng 7,86% so với cuối năm 2025.
Như vậy, chỉ trong hơn nửa đầu năm, hệ thống ngân hàng đã cung ứng thêm khoảng 1,46 triệu tỷ đồng cho nền kinh tế, góp phần hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng.
Theo đại diện Ngân hàng Nhà nước, trong 6 tháng đầu năm 2026, GDP tăng 8,18% so với cùng kỳ, cao hơn mức 7,63% của cùng kỳ năm 2025 và là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2011-2026. Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, kết quả này có sự đóng góp quan trọng của chính sách tiền tệ và tín dụng.
"Ngân hàng Nhà nước đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng hướng dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh, các lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng và các dự án trọng điểm; đồng thời rà soát, hoàn thiện cơ chế tín dụng, đơn giản hóa thủ tục và tháo gỡ khó khăn cho người dân, doanh nghiệp," bà Hà Thu Giang cho biết.
Cũng theo bà Hà Thu Giang, trong nửa đầu năm, hơn 1.000 cuộc gặp gỡ, đối thoại và kết nối ngân hàng - doanh nghiệp đã được tổ chức trên toàn quốc. Cùng với đó, nhiều chương trình tín dụng chuyên ngành đạt kết quả tích cực.
Cụ thể, chương trình cho vay lĩnh vực nông, lâm, thủy sản có doanh số giải ngân lũy kế hơn 225.577 tỷ đồng, đạt 122% mục tiêu. Chương trình tín dụng nhà ở xã hội theo Nghị quyết 33/NQ-CP giải ngân 12.440 tỷ đồng, dư nợ đạt 10.175 tỷ đồng. Chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ lúa gạo chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long đã giải ngân khoảng 4.400 tỷ đồng. Trong khi đó, chương trình tín dụng dành cho hạ tầng điện, giao thông và công nghệ chiến lược có dư nợ 11.649 tỷ đồng.
Thị trường vốn cần phát triển nhanh hơn
Tại hội thảo, các chuyên gia cho rằng để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên trong năm 2026 và giai đoạn 2026-2030, nhu cầu vốn của nền kinh tế sẽ rất lớn.
Theo tính toán của Bộ Tài chính, để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số, tổng vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội giai đoạn 2026-2030 cần khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương bình quân 7,7 triệu tỷ đồng mỗi năm, gấp hơn hai lần giai đoạn 2021-2025.
Trong đó, vốn Nhà nước dự kiến khoảng 8,5 triệu tỷ đồng, vốn đầu tư nước ngoài khoảng 4,8 triệu tỷ đồng, còn khu vực tư nhân trong và ngoài nước phải đóng góp khoảng 25,5 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 65% tổng nhu cầu vốn.

Theo các chuyên gia, cấu trúc cung ứng vốn của Việt Nam hiện vẫn phụ thuộc lớn vào hệ thống ngân hàng. Tỷ lệ tín dụng/GDP đến cuối năm 2025 ở mức khoảng 146%, thuộc nhóm cao đối với các quốc gia có mức thu nhập trung bình thấp. Điều này tạo áp lực không nhỏ đối với công tác điều hành, nhất là cân đối nguồn vốn và quản trị rủi ro thanh khoản. Trong khi đó, tín dụng trung và dài hạn vẫn chủ yếu được tài trợ từ nguồn vốn huy động ngắn hạn, làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn.
Nhà báo Phạm Đức Sơn - Tổng Biên tập Tạp chí Nhà đầu tư cho rằng các kênh dẫn vốn ngoài ngân hàng vẫn còn nhiều dư địa phát triển. Tính đến cuối tháng 5/2026, vốn hóa thị trường chứng khoán Việt Nam đạt hơn 10,6 triệu tỷ đồng, tương đương 82,6% GDP ước tính năm 2025, trong khi dư nợ trái phiếu doanh nghiệp mới đạt khoảng 1 triệu tỷ đồng, tương đương khoảng 10% GDP. Đây vẫn là những con số khiêm tốn so với nhiều nền kinh tế khác.
Tiến sỹ Cấn Văn Lực, chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính - tiền tệ Quốc gia cho rằng mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam đòi hỏi lượng vốn rất lớn, trong khi dư địa mở rộng tín dụng ngân hàng không còn nhiều.
Theo ông, ở giai đoạn tăng trưởng trên 10%, tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP của nhiều quốc gia thường dao động từ 39%-43%. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn và lao động không thể kéo dài, mà cần chuyển sang dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, cải cách thể chế và nâng cao năng suất.
Vì vậy, Việt Nam cần kết hợp đồng thời đầu tư, hấp thụ công nghệ và đổi mới sáng tạo thay vì phát triển theo từng giai đoạn. Cùng với huy động vốn, việc phân bổ và sử dụng nguồn lực hiệu quả có ý nghĩa quyết định.
"Vốn tư nhân phải đóng góp gần 2/3 nhu cầu đầu tư. Vì vậy, bài toán không chỉ là huy động thêm vốn mà còn phải mở rộng và nâng cao hiệu quả các kênh dẫn vốn," Tiến sỹ Cấn Văn Lực nhận định.
Giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng
Theo Tiến sỹ Cấn Văn Lực, nguồn lực tài chính của nền kinh tế hiện chủ yếu đến từ tín dụng ngân hàng, thị trường vốn, đầu tư công và vốn đầu tư nước ngoài. Tuy nhiên, mỗi kênh đều đang đối mặt với những giới hạn nhất định.
Trong đó, tín dụng ngân hàng đã tiến gần giới hạn về tỷ lệ đòn bẩy, thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các quỹ đầu tư còn nhiều dư địa nhưng chưa phát triển tương xứng; đầu tư công vẫn còn khả năng mở rộng song cần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
Thực tế này đặt ra yêu cầu tái cấu trúc hệ thống tài chính theo hướng cân bằng hơn giữa các kênh dẫn vốn. Theo các chuyên gia, thị trường vốn cần phát triển nhanh hơn để đáp ứng nhu cầu vốn trung và dài hạn, qua đó giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng.

Đồng quan điểm, bà Hà Thu Giang cho biết hệ thống ngân hàng đang chịu áp lực ngày càng lớn trong việc cung ứng vốn cho nền kinh tế. Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội năm 2026 dự kiến khoảng 5,1 triệu tỷ đồng và giai đoạn 2026-2030 lên tới 38,5 triệu tỷ đồng, trong khi tỷ lệ tín dụng/GDP năm 2025 đã ở mức khoảng 145%.
Đáng chú ý, nhu cầu vốn trung và dài hạn cho các dự án hạ tầng, năng lượng và công trình trọng điểm ngày càng tăng, trong khi nguồn vốn huy động của các tổ chức tín dụng chủ yếu là tiền gửi ngắn hạn. Điều này làm gia tăng rủi ro chênh lệch kỳ hạn và áp lực thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng.
"Cần phát triển thị trường vốn, đặc biệt là thị trường trái phiếu doanh nghiệp, để tạo kênh dẫn vốn trung và dài hạn hiệu quả cho nền kinh tế, qua đó giảm áp lực cung ứng vốn cho hệ thống ngân hàng," bà Hà Thu Giang nhấn mạnh.
Theo lãnh đạo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, cùng với việc điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt, cần đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ vướng mắc cho hoạt động đầu tư, kinh doanh và nâng cao khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Đây là những điều kiện quan trọng để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên, đồng thời giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính-ngân hàng./.
