'Mọi đổi mới giáo dục phải được thể hiện trong từng lớp học, từng nhà trường'
Theo Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn, Nghị quyết 71 đặt ra mục tiêu rất lớn cho giáo dục nhưng mọi đổi mới cuối cùng đều phải được thể hiện trong từng lớp học, từng nhà trường.
Nhân dịp năm học mới 2026-2027 và tròn một năm triển khai Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn đã có cuộc trao đổi với phóng viên Thông tấn xã Việt Nam (TTXVN) về những chuyển biến bước đầu, những vấn đề cần tiếp tục tháo gỡ và các nhiệm vụ trọng tâm nhằm đưa những chủ trương đổi mới đi vào thực chất.
Đột phá phải được tạo ra từ một cuộc tự đổi mới sâu sắc bên trong ngành giáo dục
- Thưa Bộ trưởng, sau một năm triển khai Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo, Bộ trưởng đánh giá đâu là những chuyển biến rõ nét nhất của ngành? Những vấn đề nào cần tiếp tục được quan tâm trong thời gian tới?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Một năm là khoảng thời gian chưa dài để đánh giá đầy đủ tác động của một nghị quyết có phạm vi rất rộng và đặt ra những mục tiêu dài hạn như Nghị quyết số 71-NQ/TW. Tuy nhiên, có thể khẳng định, năm đầu triển khai đã tạo được nền tảng quan trọng cho giai đoạn đột phá tiếp theo.
Đến giữa tháng 8/2026, 35/76 nhiệm vụ cụ thể đã hoàn thành, không có nhiệm vụ quá hạn. Khối lượng thể chế được ban hành rất lớn, gồm 4 luật, 2 nghị quyết của Quốc hội, 25 nghị định và nghị quyết của Chính phủ, 16 quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 78 thông tư cấp Bộ.
Cùng với đó, chính sách đối với nhà giáo và người học được quan tâm hơn; nguồn lực cho giáo dục tiếp tục được tăng cường; giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn chặt hơn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhu cầu nhân lực; chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo có bước tiến nhanh.
Nhìn vào những thay đổi cụ thể, nhiều chính sách lớn đã bắt đầu đi vào cuộc sống: chính sách miễn học phí được triển khai; việc chuẩn bị một bộ sách giáo khoa dùng chung được thúc đẩy; 108 trường phổ thông nội trú liên cấp tại các xã biên giới được triển khai xây dựng trong giai đoạn đầu, dự kiến bổ sung 4.396 phòng học cho gần 113.000 học sinh.
Đào tạo nhân lực STEM và công nghệ chiến lược có chuyển biến rõ, với tỷ lệ sinh viên đại học ngành STEM nhập học năm 2026 chiếm 32,5%, khoảng 110 nghìn sinh viên theo học các ngành kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược; 90 chương trình tài năng kỹ sư, thạc sĩ STEM được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học. Đây là những chuyển động cụ thể theo hướng mở rộng cơ hội học tập, chuẩn bị nguồn nhân lực và nhân tài cho yêu cầu phát triển mới của đất nước.
Cùng với thể chế và nguồn lực, phương thức quản lý giáo dục đang chuyển dịch từ nặng về hành chính, thủ tục sang quản trị dựa nhiều hơn vào tiêu chuẩn, chất lượng, dữ liệu và kết quả đầu ra; phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình.
Chuyển đổi số đã đi từ số hóa thủ tục sang xây dựng hạ tầng dữ liệu phục vụ quản trị, dạy học, thi và tuyển sinh. Hiện các cơ sở dữ liệu của ngành quản lý thông tin của khoảng 50 nghìn cơ sở giáo dục, hơn 27 triệu học sinh và trên 1,4 triệu giáo viên; đến tháng 8/2026 đã tiếp nhận trên 18 triệu học bạ số và số hóa trên 13 triệu văn bằng, chứng chỉ.

Thời gian tới, dữ liệu giáo dục phải thực sự trở thành hạ tầng chiến lược; trí tuệ nhân tạo (AI) phải được sử dụng đúng vị trí, phục vụ giáo dục, hỗ trợ người học tư duy sâu hơn và sáng tạo hơn, chứ không thay thế vai trò của người thầy hay việc tự học, tự suy nghĩ của học sinh.
Quan trọng hơn, các chính sách ngày càng hướng trực tiếp tới người học và nhà giáo. Mục tiêu xuyên suốt là bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục có chất lượng, nhất là đối với trẻ em, học sinh ở vùng khó khăn, miền núi, biên giới, hải đảo và các nhóm yếu thế; đồng thời từng bước cải thiện chính sách, điều kiện làm việc, phát triển nghề nghiệp để đội ngũ nhà giáo yên tâm công tác, tập trung tốt hơn cho chuyên môn.
Quan điểm rất rõ là phải bảo đảm “đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên,” không để một học sinh nào bị hạn chế cơ hội học tập vì thiếu trường, thiếu lớp, thiếu thầy cô.
Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận thẳng thắn rằng, một năm qua chủ yếu mới tạo nền tảng, mở đường và tạo điều kiện cho đột phá; những chuyển biến về chất lượng giáo dục, về người thầy, người học và chất lượng nguồn nhân lực chưa thật sự rõ nét. Khoảng cách từ chính sách đến thực tiễn vẫn là thách thức lớn; tình trạng thiếu giáo viên, thiếu phòng học, quá tải tại một số đô thị, khu công nghiệp và địa bàn tăng dân số cơ học còn phải tiếp tục giải quyết. Bên cạnh đó, bệnh thành tích, gian lận trong học tập và thi cử, dạy thêm-học thêm biến tướng, bạo lực học đường và những biểu hiện lệch chuẩn trong giáo dục đòi hỏi phải được chấn chỉnh quyết liệt, thực chất.

Tại cuộc làm việc ngày 25/8/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước tiếp tục khẳng định Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đã và sẽ dành sự quan tâm, cùng những điều kiện tốt nhất có thể cho giáo dục; đồng thời yêu cầu bản thân ngành giáo dục phải đáp lại bằng một cuộc tự đổi mới mạnh mẽ, bằng trách nhiệm cao hơn và chất lượng thực chất hơn.
Tôi cho rằng năm đầu là tạo nền tảng, giai đoạn tiếp theo phải tạo chuyển biến thực chất. Đột phá không chỉ đến từ thể chế, chính sách hay nguồn lực bên ngoài, mà quan trọng hơn phải được tạo ra từ một cuộc tự đổi mới sâu sắc bên trong ngành giáo dục: từ quản trị nhà trường, đội ngũ nhà giáo đến nội dung, phương pháp dạy và học, thi, kiểm tra, đánh giá.
Cuối cùng, kết quả phải được thể hiện ở người thầy tốt hơn, người học tốt hơn, nhà trường tốt hơn và chất lượng nguồn nhân lực được nâng lên.
- Đến thời điểm này, các địa phương đã cơ bản hoàn thành việc sắp xếp mạng lưới trường lớp để bắt đầu năm học mới. Bộ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả bước đầu của quá trình này? Những vấn đề cần tiếp tục lưu ý để bảo đảm các trường vận hành ổn định, phát huy hiệu quả và thực sự nâng cao chất lượng giáo dục?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục là một việc lớn, khó, tác động trực tiếp đến học sinh, giáo viên, cán bộ quản lý và người dân. Vì vậy, ngay từ đầu chúng tôi xác định rất rõ: sắp xếp không phải để giảm đầu mối bằng mọi giá, càng không phải phép cộng cơ học giữa các cơ sở giáo dục.
Mục tiêu cuối cùng phải là tổ chức hệ thống hợp lý hơn, sử dụng hiệu quả hơn đội ngũ, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư, đồng thời bảo đảm và mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng cho người học.
Kết quả bước đầu cho thấy, các địa phương đã có nhiều nỗ lực và việc sắp xếp các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông cơ bản hoàn thành. Điều quan trọng lúc này không phải là nhấn mạnh số lượng đầu mối thay đổi, mà là đánh giá việc tổ chức lại mạng lưới có phù hợp với biến động dân số, điều kiện địa lý và nhu cầu học tập hay không; đội ngũ có được bố trí hợp lý hơn không; cơ sở vật chất, tài sản có được sử dụng hiệu quả hơn không và trên hết, quyền học tập của học sinh có được bảo đảm tốt hơn không.
Đằng sau những con số đó là một khối lượng công việc rất lớn và nhiều tác động trực tiếp tới đội ngũ. Tôi rất chia sẻ và đánh giá cao tinh thần trách nhiệm của các thầy cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục trong thời gian qua. Nhiều người phải thay đổi vị trí công tác, đơn vị, địa bàn hoặc nhiệm vụ sau sắp xếp nhưng vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ, nỗ lực giữ ổn định hoạt động của nhà trường và việc học của học sinh. Sự tận tụy, trách nhiệm và tinh thần vì học sinh của đội ngũ trong một giai đoạn có nhiều thay đổi rất đáng được ghi nhận và trân trọng.
Tôi cũng đánh giá cao sự quan tâm và quyết tâm của lãnh đạo nhiều địa phương. Thực tiễn cho thấy ở đâu cấp ủy, chính quyền địa phương thực sự quan tâm, trực tiếp chỉ đạo, nắm chắc tình hình từng trường, từng địa bàn và lắng nghe đội ngũ, người dân thì việc sắp xếp, bố trí trường lớp và giáo viên thuận lợi hơn, những vấn đề phát sinh cũng được giải quyết kịp thời hơn.Sắp xếp tổ chức mới chỉ là bước đầu.
Công việc khó hơn nằm ở phía sau: làm thế nào để từng trường sau sắp xếp vận hành thông suốt, đội ngũ ổn định, tài sản và cơ sở vật chất được sử dụng hiệu quả, hoạt động chuyên môn không bị gián đoạn và quyền lợi của học sinh, giáo viên được bảo đảm.
Việc rà soát, sắp xếp, điều phối mạng lưới trường lớp và đội ngũ phải bám sát biến động dân số, khắc phục tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, đồng thời ưu tiên vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và xử lý quá tải tại các đô thị, khu công nghiệp.
Trước hết, cần tiếp tục rà soát kỹ việc bố trí đội ngũ. Nơi thừa, nơi thiếu phải được điều tiết hợp lý; số biên chế đã được giao nhưng chưa tuyển cần được tuyển dụng kịp thời; có thể thực hiện điều động, biệt phái, dạy liên trường, bố trí theo cụm trường và bố trí cán bộ quản lý dôi dư đủ điều kiện trở lại giảng dạy.
Việc bố trí phải căn cứ vào năng lực, chuyên môn và điều kiện thực tế, có sự chia sẻ với hoàn cảnh của từng cán bộ, giáo viên, tránh cách làm cơ học tạo xáo trộn không cần thiết.
Thứ hai, việc quản trị sau sắp xếp. Một trường có quy mô lớn hơn, nhiều điểm trường hơn thì phương thức quản trị cũng phải thay đổi tương ứng.
Cần phân công rõ trách nhiệm, bảo đảm hoạt động chuyên môn thống nhất nhưng vẫn linh hoạt; đồng thời xử lý đầy đủ các vấn đề về tài chính, tài sản, hồ sơ, dữ liệu và điều kiện làm việc.

Thứ ba, không được để việc sắp xếp làm giảm cơ hội tiếp cận giáo dục, nhất là đối với học sinh ở vùng sâu, vùng xa, miền núi, biên giới. Khoảng cách đi học, điều kiện giao thông, đặc điểm dân cư và nhu cầu học tập phải được đặt lên hàng đầu khi quyết định duy trì hay sắp xếp điểm trường. Mục tiêu của sắp xếp cuối cùng vẫn phải là phục vụ người học tốt hơn và bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục.
Giá trị của mỗi người không thể đo bằng một điểm số hay một tấm bằng
- Một năm học mới thường đi cùng nhiều áp lực về thi cử, thành tích, dạy thêm-học thêm, cơ sở vật chất và kỳ vọng của phụ huynh. Trong năm học 2026-2027, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ tập trung giải quyết những vấn đề nào để giảm áp lực không cần thiết, tạo môi trường học tập lành mạnh, thực chất và phát triển toàn diện cho học sinh?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Tôi nghĩ trước hết cần nhìn vấn đề này rộng hơn. Áp lực đối với học sinh không chỉ bắt nguồn từ chương trình, thi cử hay từ riêng ngành Giáo dục. Khi một địa bàn chưa đủ trường, đủ lớp, cơ hội tiếp cận các trường học có chất lượng còn chênh lệch thì cạnh tranh và áp lực tuyển sinh tất yếu sẽ tăng. Vì vậy, muốn giảm áp lực một cách thực chất, trước hết phải bảo đảm đủ trường, đủ lớp, đủ giáo viên, mở rộng cơ hội tiếp cận giáo dục có chất lượng một cách công bằng; đồng thời tiếp tục đổi mới phương thức tiếp nhận học sinh đầu cấp, nhất là ở những địa bàn có áp lực tuyển sinh cao.
Đây là việc ngành giáo dục không thể làm một mình. Quy hoạch đất đai, đầu tư trường lớp, phân bố dân cư, bố trí nguồn lực và đội ngũ gắn rất chặt với trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền địa phương. Ở đâu lãnh đạo địa phương thực sự quan tâm, quyết tâm dành quỹ đất, nguồn lực và chủ động tháo gỡ những điểm nghẽn về trường lớp, ở đó áp lực đối với người học và phụ huynh sẽ từng bước được giải quyết từ gốc.
Trong nhà trường, cần phân biệt giữa yêu cầu cần thiết để tạo động lực phấn đấu với những áp lực không tạo ra giá trị giáo dục. Giáo dục luôn cần kỷ luật, sự nỗ lực và những chuẩn mực cần đạt. Điều chúng ta phải giảm là áp lực do cách tổ chức chưa hợp lý, chạy theo điểm số, thành tích, thi cử quá mức hoặc kỳ vọng không phù hợp với năng lực, sở trường của từng học sinh.
Vì vậy, một trọng tâm của năm học 2026-2027 là tạo chuyển biến thực chất từ bên trong nhà trường, trong đó đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá là những khâu then chốt. Phải giảm truyền thụ một chiều, học thuộc, học đối phó, học chỉ để thi; tăng tự học, thực hành, trải nghiệm, tư duy độc lập, sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề. Cách thi, cách đánh giá không thay đổi thì rất khó thay đổi cách dạy và cách học. Bộ sẽ tiếp tục rà soát, đánh giá thực chất việc thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông 2018 để kịp thời điều chỉnh những nội dung bộc lộ bất cập, nhưng không hạ thấp yêu cầu về chất lượng.
Cùng với đó phải giảm áp lực thành tích đối với nhà trường và giáo viên. Thi đua là cần thiết, nhưng thành tích phải phản ánh chất lượng thật. Những tiêu chí có thể dẫn tới chạy theo tỷ lệ học sinh giỏi, tỷ lệ tốt nghiệp hay làm đẹp số liệu cần được rà soát. Giảm áp lực thành tích không có nghĩa là giảm trách nhiệm về chất lượng; ngược lại, nhà trường phải chịu trách nhiệm về sự tiến bộ của học sinh và chất lượng đầu ra, nhưng đó phải là chất lượng thực chất.

Đối với dạy thêm, học thêm, cần xử lý cả hai phía. Một mặt, tiếp tục chấn chỉnh những biểu hiện dạy thêm, học thêm không đúng quy định; mặt khác, phải nâng cao chất lượng dạy học chính khóa, tổ chức tốt dạy học hai buổi/ngày ở nơi đủ điều kiện, tăng hoạt động trải nghiệm, văn hóa, nghệ thuật, thể thao và hỗ trợ học sinh ngay trong nhà trường. Khi học sinh được học đủ, được hỗ trợ đúng nhu cầu và được phát triển toàn diện trong trường thì nhu cầu học thêm quá mức sẽ từng bước giảm.
Nhưng tôi cho rằng còn một yếu tố rất quan trọng là cách người lớn nhìn nhận thành công của trẻ em. Mỗi học sinh có năng lực, sở trường và tốc độ phát triển khác nhau; điều quan trọng là các em tiến bộ, trưởng thành, biết sống tử tế, có kiến thức, kỹ năng, sức khỏe, bản lĩnh và khả năng xây dựng tương lai của mình.
Mục tiêu chúng tôi hướng tới là những nhà trường an toàn, hạnh phúc, có kỷ cương, nơi học sinh được học thật, được đánh giá đúng, được tôn trọng sự khác biệt và có cơ hội phát triển tốt nhất khả năng của mình. Giảm những áp lực không cần thiết không phải để việc học nhẹ đi một cách hình thức, mà để sự nỗ lực của học sinh được đặt đúng chỗ.
- Từ những kết quả sau một năm thực hiện Nghị quyết 71-NQ/TW và trước thềm năm học mới, Bộ trưởng muốn gửi thông điệp gì tới đội ngũ nhà giáo, học sinh và phụ huynh?
Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn: Nghị quyết 71 đặt ra những mục tiêu rất lớn cho giáo dục, nhưng mọi đổi mới cuối cùng đều phải được thể hiện trong từng lớp học, từng nhà trường và thông qua những con người cụ thể.
Trước hết, tôi muốn gửi lời cảm ơn và sự trân trọng tới đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục trên cả nước. Trong bối cảnh có nhiều thay đổi, nhiều thầy cô vẫn sẵn sàng nhận nhiệm vụ, chia sẻ khó khăn, giữ vững hoạt động của nhà trường và đặt việc học của học sinh lên trên hết. Tinh thần trách nhiệm ấy rất đáng trân trọng, cần được ghi nhận và tôn vinh.
Ngành giáo dục có trách nhiệm tiếp tục hoàn thiện chính sách đối với nhà giáo, cải thiện điều kiện làm việc để mỗi nhà giáo được phát triển nghề nghiệp, được xã hội tôn trọng và yên tâm gắn bó với nghề. Cùng với quyền lợi và sự tôn trọng ấy là yêu cầu ngày càng cao về năng lực, đạo đức, sự trung thực và trách nhiệm nghề nghiệp.
Với học sinh, tôi mong các em học để hiểu, để làm được và để trưởng thành. Các em hãy trung thực với kết quả của mình, biết trân trọng sự tiến bộ mỗi ngày, chủ động khám phá năng lực, sở trường và nuôi dưỡng ước mơ. Thành công không chỉ có một con đường và giá trị của mỗi người không thể đo bằng một điểm số hay một tấm bằng.
Với các bậc phụ huynh, tôi mong nhận được sự đồng hành trên tinh thần tôn trọng các con và tin tưởng nhà trường. Hãy kỳ vọng ở con, nhưng đó nên là kỳ vọng để con tiến bộ so với chính mình, không phải áp lực để con phải giống một người khác.
Khi nhà trường và gia đình tin tưởng nhau, khi thầy cô được tôn trọng và có điều kiện làm tốt công việc của mình, khi không đặt điểm số và thành tích đè nặng lên tuổi thơ, học sinh sẽ có một môi trường tốt hơn để học tập, khám phá và trưởng thành. Đó cũng là cách những mục tiêu lớn của Nghị quyết 71 được tạo nên từ những thay đổi rất cụ thể mỗi ngày.
- Trân trọng cảm ơn Bộ trưởng./.
