Minh bạch dữ liệu, chuẩn ESG: Hướng đi giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường vốn
Thay vì thụ động chờ đợi các gói tín dụng giải cứu, doanh nghiệp cần chủ động số hóa quy trình, đáp ứng ESG, tự nâng cấp mình thành những mắt xích không thể thay thế trong chuỗi cung ứng FDI toàn cầu.
Mục tiêu tăng trưởng GDP bứt phá cùng những áp lực về chi phí logistics, giá năng lượng và tỷ giá đang đè nặng trên vai của khối doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Theo các chuyên gia kinh tế, thay vì thụ động chờ đợi các gói tín dụng giải cứu, doanh nghiệp cần chủ động số hóa quy trình, đáp ứng các tiêu chuẩn xanh (ESG) để tự nâng cấp mình thành những mắt xích không thể thay thế trong chuỗi cung ứng FDI toàn cầu.
Lý giải vấn đề này từ góc độ cơ quan điều hành chính sách tiền tệ, ông Đào Văn Hà, Phó Vụ trưởng Vụ Dự báo Thống kê (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) chia sẻ về bài toán khó khi phải thực thi cùng lúc nhiều mục tiêu vĩ mô. Cơ quan quản lý vừa phải đảm bảo cung ứng đủ vốn cho nền kinh tế, định hướng dòng tiền vào khu vực sản xuất, công nghiệp hỗ trợ, vừa phải kiểm soát lạm phát và giữ vững an toàn hệ thống.
Số liệu thực tế chỉ ra rằng dư nợ tín dụng toàn hệ thống đến cuối tháng 9/2026 đã tăng tới 11,59% so với cuối năm trước, trong khi tốc độ huy động vốn chỉ nhích lên mức 9,78%. Sự chênh lệch rõ rệt này tạo ra áp lực cân đối thanh khoản cực lớn cho các tổ chức tín dụng.
Chính độ vênh giữa tốc độ huy động và cho vay, cộng hưởng với áp lực lạm phát cơ bản khi CPI bình quân 9 tháng đạt 4,52% (sát ngưỡng mục tiêu 4,5% của Quốc hội), đã thu hẹp đáng kể dư địa để tiếp tục kéo giảm sâu mặt bằng lãi suất cho vay.
Do đó, dù các ngân hàng thương mại liên tục được yêu cầu tiết giảm chi phí hoạt động, việc đưa dòng vốn rẻ đến tận tay các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) vẫn gặp vô vàn rào cản. Rào cản lớn nhất nằm ở tư duy cấp tín dụng truyền thống: sự đòi hỏi khắt khe về tài sản thế chấp.

Không chỉ vướng mắc về cơ chế cấp vốn, bối cảnh vĩ mô quốc tế hiện tại với sự biến động không ngừng của tỷ giá và giá năng lượng càng làm trầm trọng thêm áp lực tài chính của khối doanh nghiệp.
Nhìn nhận một cách thực tế từ thực trạng sản xuất, ông Khánh Phạm, Công ty cổ phần Vinatech (Hà Nội) chia sẻ: "Tỷ giá, lãi suất và giá năng lượng đối với chúng tôi không phải là những con số thống kê trên bản tin vĩ mô, mà nó ăn mòn trực tiếp vào từng đơn hàng. Giá xăng dầu thế giới leo thang đẩy cước vận tải đội lên hơn 10%, trong khi tỷ giá biến động làm nguyên liệu thép hợp kim nhập khẩu trở nên đắt đỏ. Biên lợi nhuận mỏng dính khiến chúng tôi không dám nhận thêm các đơn hàng lớn từ đối tác châu Âu. Lý do là khi cần vốn lưu động để thực hiện hợp đồng, hệ thống ngân hàng vẫn đòi tài sản thế chấp bằng bất động sản, thứ mà một doanh nghiệp đi thuê xưởng sản xuất như chúng tôi không thể có thêm để thế chấp."
Cùng chung nỗi trăn trở này, bà Nguyễn Thị Lan, đại diện Hợp tác xã Nông nghiệp Công nghệ cao Hưng Yên cho biết nghịch lý lớn nhất hiện nay là doanh nghiệp có thị trường nhưng lại đứt gãy dòng tiền đầu tư, đơn vị có tệp khách hàng ổn định ở châu Âu, dòng tiền thanh toán về đều đặn hàng tháng. Tuy nhiên, khi công ty cần huy động vốn gấp để nâng cấp hệ thống phần mềm truy xuất nguồn gốc và áp dụng công nghệ tưới tiêu tiết kiệm nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn xanh (ESG) khắt khe của đối tác, hồ sơ vay vẫn bị ách lại.
Đã đến lúc các tổ chức tín dụng cần thay đổi phương pháp đánh giá, nhìn nhận sức khỏe doanh nghiệp thông qua lịch sử dòng tiền và các hợp đồng đầu ra, thay vì chỉ tập trung định giá xem mảnh đất, cái kho đáng giá bao nhiêu tiền.
Những phản ánh từ thực tiễn sản xuất cho thấy, để tháo gỡ nút thắt về vốn, bản thân phương thức đánh giá tín dụng từ phía các ngân hàng thương mại bắt buộc phải có sự chuyển mình sâu sắc. Thay vì chỉ bám vào khối tài sản vật lý mang tính thời điểm, các tổ chức tài chính nhạy bén đang chuyển hướng sang các giải pháp tài trợ chuỗi cung ứng và định giá năng lực trả nợ dựa trên dữ liệu dòng tiền.
Phân tích về xu hướng dịch chuyển tất yếu này, bà Bùi Thu Trang, Trưởng phòng Ban Quản lý Khách hàng Doanh nghiệp Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), nhấn mạnh rằng việc nâng cao năng lực cung ứng là bệ phóng để lấy đơn hàng, nhưng để thực thi thành công hợp đồng, doanh nghiệp cần làm chủ nguồn vốn ở mọi khâu. Thông qua nền tảng tài chính số hóa, ngân hàng hiện nay hoàn toàn có thể tài trợ vốn lưu động bằng các nghiệp vụ hiện đại như chiết khấu bộ chứng từ, bao thanh toán hóa đơn hoặc cấp tín dụng tín chấp dựa trên hợp đồng bán hàng.
"Sự minh bạch về dữ liệu tài chính, dòng tiền nhất quán và báo cáo kế toán rõ ràng chính là lợi thế tín dụng tuyệt đối. Khi ngân hàng nhìn rõ được toàn cảnh bức tranh dòng tiền của doanh nghiệp, việc thiết kế khoản vay, quản trị rủi ro và giải ngân sẽ diễn ra vô cùng nhanh chóng mà không bị lệ thuộc vào tài sản bảo đảm, bà Trang phân tích.
Song hành cùng việc khơi thông dòng chảy tín dụng ngân hàng, việc đa dạng hóa các kênh huy động qua thị trường vốn (cổ phiếu, trái phiếu) đang trở thành giải pháp mang tính cấu trúc để khối doanh nghiệp tự chủ tài chính trong dài hạn.
Đánh giá về dư địa của kênh huy động này, ông Nguyễn Đức Sung, Giám đốc Kinh doanh Công ty Cổ phần Chứng khoán LPS cho biết quy mô thị trường vốn Việt Nam đang chứng kiến sự mở rộng mạnh mẽ.

Chỉ tính riêng 9 tháng năm 2026, giá trị huy động qua kênh chào bán cổ phiếu đã đạt 135.940 tỷ đồng, tăng tới 68,82% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù dư địa rất lớn, nhưng để dòng tiền này chảy đúng địa chỉ, nhiệm vụ cấp bách hiện nay là sự kết nối hiệu quả giữa những doanh nghiệp có hồ sơ kinh doanh tốt với các nhà đầu tư tổ chức có năng lực thẩm định chuyên sâu.
Ông Sung lưu ý bước chân vào thị trường vốn đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải chấp nhận những luật chơi khắt khe và sòng phẳng hơn rất nhiều về mặt quản trị. "Sự minh bạch thông tin không chỉ là lớp áo khoác ngoài được trang điểm trước mỗi kỳ phát hành cổ phiếu hay trái phiếu, mà nó phải được duy trì liên tục, xuyên suốt vòng đời sử dụng vốn. Thay vì thụ động chờ đợi hay chỉ phản ứng khi khó khăn tài chính ập đến, doanh nghiệp cần chủ động rà soát ngay các nghĩa vụ nợ, tái cấp vốn các khoản vay có chi phí cao, chuẩn hóa hồ sơ kiểm toán và minh bạch thông tin trước khi gõ cửa các quỹ đầu tư," đại diện LPS khuyến nghị.
Cánh cửa tiếp cận nguồn vốn của nền kinh tế đang bước vào một chu kỳ sàng lọc khắt khe nhưng thực chất hơn. Sẽ không còn dư địa cho tư duy vay mượn dễ dãi hay thói quen ỷ lại vào các chính sách nới lỏng tạm thời.
Để tự giải phóng mình khỏi vòng luẩn quẩn của sự "khát vốn", sự chủ động tái cấu trúc quản trị, minh bạch hóa dữ liệu kế toán, số hóa quy trình kinh doanh và linh hoạt sử dụng đòn bẩy từ thị trường chứng khoán chính là giải pháp sống còn. Chỉ khi xây dựng được một cấu trúc tài chính đa dạng và độc lập, khối doanh nghiệp tư nhân mới có đủ sức chống chịu trước những cú sốc vĩ mô, tự tin nắm bắt cơ hội để bứt phá trong kỷ nguyên hội nhập 2027./.
