Miếu Mái-dấu tích hơn bảy thế kỷ trên đất Dưỡng Phú, tỉnh Hưng Yên

Trải qua hơn 7 thế kỷ cùng sự biến thiên của lịch sử, những huyền tích về miếu Mái, các giá trị kiến trúc, tín ngưỡng luôn được người dân Hưng Yên gìn giữ, góp phần bồi đắp đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Ở thôn Dưỡng Phú, xã Lương Bằng, tỉnh Hưng Yên, có một ngôi miếu cổ đã tồn tại trong ký ức cộng đồng qua nhiều thế kỷ. Đó là miếu Mái, nơi thờ Cung phi Nguyễn Thị La-nhân vật được người dân địa phương tôn kính gọi là bà Chúa Mái.

Năm 1994, cụm di tích miếu Mái-chùa Dưỡng Phú được Bộ Văn hóa-Thông tin xếp hạng di tích lịch sử-nghệ thuật cấp quốc gia theo Quyết định số 295-QĐ/BT ngày 12/2/1994. Tuy nhiên, giá trị của di tích không chỉ nằm ở tuổi đời hay kiến trúc. Điều đáng chú ý hơn là nơi đây bảo lưu nhiều lớp ký ức về lịch sử, tín ngưỡng và đời sống cộng đồng của một vùng quê đồng bằng Bắc Bộ.

Huyền tích người phụ nữ cầm gươm

Dưỡng Phú xưa có tên chữ là Dưỡng Phúc, tên Nôm là làng Phận. Theo truyền kể, thuở xa xưa vùng đất này còn hoang sơ, cây cối mọc rậm rạp, có đầm lầy và nhiều thú dữ. Một loại cây được dân gian gọi là cây mái mọc khá phổ biến, về sau gắn với tên địa danh và tên ngôi miếu.

Miếu Mái tọa lạc trên một gò đất cao, tương đối thoáng đãng, quay về hướng Nam. Theo truyền thống địa phương, chính khu vực này gắn với huyền tích về sự hóa thân của Nguyễn Thị La.

Thần phả ghi bà sinh năm Bính Dậu, tức năm 1266, là con ông Nguyễn Công Minh và bà Trương Thị Ngoan. Từ nhỏ, bà được kể là người thông minh, đoan trang. Sau khi sớm mồ côi cha mẹ, bà trải qua nhiều biến cố trước khi đến kinh thành Thăng Long.

Theo truyền tích, tại kinh thành, Nguyễn Thị La có duyên gặp vua Trần Anh Tông, sau đó được đưa vào cung và trở thành Cung phi. Điểm nổi bật trong câu chuyện về Nguyễn Thị La là hình ảnh một người phụ nữ không chỉ sống trong cung đình mà được dân gian ghi nhớ như người có công với đất nước.

Theo thần phả, trong thời kỳ triều đình phải đối phó với những tình trạng bất ổn ở một số nơi, bà đã cưỡi ngựa, cầm gươm tham gia dẹp loạn, giúp vua và giúp dân. Bà được truyền là đã sinh hạ hai hoàng tử và một công chúa; hai hoàng tử sau này được cho là có những đóng góp đối với đất nước.

Điều đáng chú ý ở đây là hình tượng Nguyễn Thị La đã vượt ra ngoài câu chuyện về một Cung phi. Trong ký ức Dưỡng Phú, bà trở thành một người phụ nữ có công với dân, với nước và đặc biệt có mối liên hệ sâu sắc với quê hương. Đó cũng là lý do để bà được cộng đồng tôn kính sau khi qua đời.

Dấu tích về miếu Mái và kiến trúc qua nhiều thời đại

Theo thần tích, khi ngoài tứ tuần, Nguyễn Thị La xin trở về quê Dưỡng Phúc. Bà được kể là đã lập đồn trại, dựng từ đường và góp phần gây dựng cuộc sống cho dân làng. Câu chuyện về sự trở về ấy kết thúc bằng một huyền tích đặc biệt.

Vào giờ Ngọ ngày 11 tháng 6 năm 1307, khi thuyền rồng đưa bà về thăm quê cha vừa cập bến Mái, trời nổi sấm chớp. Bà được truyền là đã hóa về cõi thiêng. Sau đó, một gò đất cao được bồi đắp bởi phù sa được xem là nơi an nghỉ của bà. Người dân lập miếu phụng thờ. Nhà vua thương tiếc, sắc phong bà là Vương phi Công chúa và truyền cho dân làng tu sửa miếu để đời đời hương khói. Từ đó, người dân gọi bà là Chúa Mái.

Hàng năm, người dân tổ chức lễ dâng hương vào ngày mồng 7 tháng 3 âm lịch, được xem là ngày sinh của bà và ngày 11 tháng 6 âm lịch, ngày bà hóa. (Ảnh: Vietnam+)

Trong đời sống tín ngưỡng dân gian, "hóa" không chỉ đơn thuần là cách nói về cái chết. Đó còn là sự chuyển từ thế giới con người sang thế giới thần linh. Một nhân vật sau khi "hóa" vẫn được tin là tiếp tục hiện diện và bảo trợ cộng đồng. Bởi vậy, bến Mái, gò đất và ngôi miếu dần trở thành một chỉnh thể ký ức thiêng của làng.

Hàng năm, người dân tổ chức lễ dâng hương vào ngày mồng 7 tháng 3 âm lịch, được xem là ngày sinh của bà và ngày 11 tháng 6 âm lịch, ngày bà hóa.

Theo hồ sơ và tư liệu về di tích, Miếu Mái tọa lạc trên gò đất cao, quang đãng, nhìn về hướng Nam, có nguồn gốc từ thời Trần, trải qua nhiều lần trùng tu, tôn tạo dưới thời Lê và Nguyễn. Hiện nay, di tích mang đậm nét kiến trúc thời Nguyễn với kết cấu kiểu chữ Nhị, gồm tòa tiền tế 5 gian, 2 dĩ và hậu cung 3 gian. Các bộ vì được làm theo kiểu chồng rường, chạm khắc hoa văn đơn giản. Miếu vẫn còn lưu giữ được gạch, ngói thời Trần và hệ thống tượng đá thời Lê.

Đây là đặc điểm thường thấy ở những công trình tín ngưỡng lâu đời. Một ngôi miếu tồn tại qua hàng trăm năm khó có thể giữ nguyên hình thức ban đầu. Mỗi lần tu sửa lại để lại dấu ấn của một thời kỳ. Do đó, giá trị của miếu Mái nằm không chỉ ở "tuổi đời" mà ở chính quá trình tích tụ các lớp lịch sử trong một công trình. Mỗi cấu kiện, hiện vật hay lớp kiến trúc đều góp một phần vào việc nhận diện quá khứ của di tích này.

Bảo tồn di tích là cách gìn giữ ký ức

Hơn bảy thế kỷ tồn tại, miếu Mái đã trở thành một phần trong đời sống văn hóa và tâm linh của người dân Dưỡng Phú.

Ngày nay, bảo tồn di tích không chỉ là giữ mái ngói, vì kèo hay tường gạch. Quan trọng không kém là bảo vệ những câu chuyện, văn bản, hiện vật và ký ức cộng đồng gắn với di tích.

Điều làm nên nét đặc sắc của cụm di tích miếu Mái-chùa Dưỡng Phú chính là sự hòa quyện giữa giá trị tâm linh, tín ngưỡng dân gian và truyền thống cách mạng vẻ vang của quê hương. Theo tư liệu lịch sử địa phương, những năm 1942-1943, khi phong trào cách mạng còn hoạt động bí mật, cụm di tích miếu Mái-chùa Dưỡng Phú là cơ sở cách mạng của tỉnh, là nơi dừng chân an toàn của nhiều cán bộ cấp cao của Đảng, là điểm tựa để xây dựng và phát triển phong trào Cứu quốc ra các vùng lân cận.

Miếu Mái được xếp hạng di tích lịch sử-nghệ thuật cấp quốc gia. (Ảnh: Vietnam+)

Thần phả cần được nghiên cứu, bảo quản. Các hiện vật thời Trần, thời Lê cần được kiểm kê, bảo tồn khoa học. Những câu chuyện về hoạt động cách mạng cũng cần được sưu tầm từ nhân chứng, gia đình và hồ sơ địa phương trước khi những ký ức ấy phai mờ theo thời gian.

Miếu Mái không chỉ kể câu chuyện của một Cung phi thời Trần theo truyền thống địa phương mà còn kể câu chuyện về sự hình thành của một cộng đồng, về đời sống tín ngưỡng, về kiến trúc làng quê, về những năm tháng cách mạng và về cách người dân hôm nay gìn giữ ký ức của mình.

Trên vùng đất Dưỡng Phú giàu truyền thống lịch sử, văn hóa và cách mạng, nơi sớm ươm mầm phong trào cách mạng, góp phần đào tạo những "hạt giống đỏ" cho quê hương, miếu Mái hiện diện giữa không gian làng quê như một dấu tích nối quá khứ với hiện tại. Điều làm nên sức sống của di tích không chỉ là những gì còn lại trong gỗ đá, mà là việc người dân vẫn nhớ, vẫn kể và vẫn trở về. Đó chính là cách một vùng đất gìn giữ lịch sử của mình.

Trải qua hơn bảy thế kỷ cùng bao biến thiên của lịch sử, những huyền tích về Cung phi Nguyễn Thị La cùng các giá trị kiến trúc, tín ngưỡng được các thế hệ người dân gìn giữ, góp phần bồi đắp đạo lý uống nước nhớ nguồn và bản sắc văn hóa quê hương./.

(Vietnam+)