Lịch sử Bắc Kạn - Tỉnh có dân số ít nhất trong cả nước
Theo công bố của Tổng cục Thống kê, ước tính dân số của tỉnh Bắc Kạn năm 2024 là 329.312 người, là tỉnh có dân số ít nhất nước ta.
Trải qua quá trình 125 năm hình thành, hợp nhất rồi lại chia tách, tỉnh Bắc Kạn hiện nay đã từng bước phát triển trên tất cả các lĩnh vực.
Vị trí địa lý
Bắc Kạn là tỉnh miền núi nằm ở trung tâm nội địa vùng Đông Bắc Bắc Bộ; phía Bắc giáp các huyện Bảo Lạc, Nguyên Bình, Thạch An, tỉnh Cao Bằng; phía Đông giáp các huyện Tràng Định, Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn; phía Nam giáp các huyện Võ Nhai, Phú Lương, Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên; phía Tây giáp các huyện Na Hang, Chiêm Hóa, Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang.
Bắc Kạn nằm hoàn toàn trong vành đai nhiệt đới khu vực gió mùa Đông Nam Á. Ở vị trí này, Bắc Kạn có sự phân hóa khí hậu theo mùa rõ rệt về nhiệt độ, lượng mưa, độ dài ngày và đêm.
Lãnh thổ Bắc Kạn nằm giữa hai hệ thống núi cánh cung miền Đông Bắc nên chịu ảnh hưởng mạnh của khí hậu lục địa châu Á, thời tiết lạnh về mùa đông, hạn chế ảnh hưởng mưa bão về mùa hạ.
Diện tích đất tự nhiên của Bắc Kạn là 485.996ha, trong đó: Đất nông nghiệp là 44.116ha, chiếm 9,08%; đất lâm nghiệp 413.366ha chiếm 85,05%; đất khác (đất chuyên dùng, đất ở, đất chưa sử dụng…) là 28.514ha, chiếm 5,87%. Đất đai tương đối màu mỡ, nhiều nơi tầng đất dày, đất đồi núi có lượng mùn cao, thích hợp cho sản xuất nông lâm nghiệp, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả…

Tỉnh Bắc Kạn có 8 đơn vị hành chính cấp huyện, bao gồm 1 thành phố và 7 huyện, được phân chia thành 108 đơn vị hành chính cấp xã gồm có 6 phường, 7 thị trấn và 95 xã.
Theo công bố của Tổng cục Thống kê, ước tính dân số của tỉnh Bắc Kạn năm 2024 là 329.312 người (trong đó thành thị có 80.851 người; nông thôn có 248.461 người). Như vậy, Bắc Kạn là tỉnh có dân số ít nhất nước ta.
Lịch sử tỉnh Bắc Kạn
Trong quá trình hình thành và phát triển Bắc Kạn có nhiều biến đổi về dân số địa giới hành chính. Theo các tư liệu lịch sử, thời Nhà nước Văn Lang, Bắc Kạn nằm trong bộ Vũng Định. Thời nhà Lý, vùng đất này thuộc phủ Phú Lương. Năm 1460, phủ Phú Lương đổi thành thừa tuyên Ninh Sóc. Năm 1490, nhà Lê tách một phần đất phía Bắc thừa tuyên Ninh Sóc đặt thêm phủ Thông Hóa. Bắc Kạn nằm trong phủ Thông Hóa thuộc xứ Thái Nguyên.
Địa danh Bắc Kạn xuất hiện trong các văn bản lần đầu vào khoảng thế kỷ XVII. Theo nhân dân địa phương từ “Bắc Kạn” được gọi chệch từ chữ “Pác cáp” (tiếng Tày), có nghĩa là nơi hợp lưu của các dòng chảy.
Vào buổi sơ khai, địa phận Bắc Kạn mới chỉ trong một phạm vi rất hẹp, lúc gọi là phố, lúc gọi là trại và chủ yếu nằm trong trung tâm của Thành phố bây giờ. Nhà cửa thưa thớt, dân cư rất ít. Đến thời nhà Nguyễn (triều vua Minh Mạng) bắt đầu đặt tên cho các tỉnh. Vào năm 1831, xứ Thái Nguyên đổi thành tỉnh Thái Nguyên, gồm 2 phủ: Phú Bình và Thông Hóa. Sau đó, chính quyền phong kiến nhà Nguyễn tách một số châu, huyện thuộc phủ Phú Bình, lập thêm phủ mới - phủ Tòng Hóa.
Ngày 11/4/1900, ngay sau khi chiếm vùng đất Bắc Kạn, toàn quyền Đông Dương ra Nghị định tách một phần đất thuộc tỉnh Thái Nguyên thành lập tỉnh Bắc Kạn gồm bốn châu: Bạch Thông, Chợ Rã, Thông Hóa (sau đổi thành Na Rì) và Cảm Hóa (sau đổi thành Ngân Sơn).
Năm 1916 thực dân Pháp cắt một phần đất phía tây châu Bạch Thông và phần đất phía Nam châu Chợ Rã để lập ra châu Chợ Đồn. Vào thời gian đó, Bắc Kạn có 5 châu, 20 tổng và 103 xã, bản với số dân 36.000 người.
Tháng 7/1901, thị xã Bắc Kạn được thành lập vừa là tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Kạn vừa là châu lỵ của châu Bạch Thông. Thị xã trở thành trung tâm hành chính, kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa của tỉnh Bắc Kạn. Các cơ quan đầu não bộ máy cai trị của chính quyền thực dân phong kiến đều đóng ở đây.
Lúc mới thành lập, thị xã chỉ có một cụm dân cư thưa thớt sống trong một dãy phố nhỏ. Mấy năm sau, theo quy định của chính quyền thực dân, phong kiến, thị xã Bắc Kạn có 3 phố chính: Định Bình (khu vực phố Đức Xuận), Hoài Ân (khu vực phố Phùng Chí Kiên) và Tòng Hóa (khu vực phố Đội Kỳ).
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, nhất là sau ngày giải phóng (1949), thị xã Bắc Kạn được mở rộng thêm gồm 6 phố và lấy tên các chiến sỹ cộng sản, các nhà yêu nước đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp giải phóng dân tộc như: Đội Kỳ, Đội Thân, Minh Khai, Chí Kiên, Đức Xuân, đặt tên cho các phố.
Ngày 21/4/1965, trước yêu cầu, nhiệm vụ chính trị trong tình hình mới, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc hợp nhất hai tỉnh Bắc Kạn và Thái Nguyên thành tỉnh Bắc Thái.
Năm 1967, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định nhập thị xã Bắc kạn vào huyện Bạch Thông, thị xã Bắc Kạn trở thành thị trấn huyện lỵ của huyện Bạch Thông.
Ngày 16/7/1990, Hội đồng Bộ trưởng ra quyết định số 262/HĐBT về việc thành lập thị xã Bắc Kạn. Theo quyết định này, thị xã Bắc Kạn được thành lập gồm 03 đơn vị hành chính với 1.307ha diện tích tự nhiên và 9.468 nhân khẩu trên cơ sở các phố Nà Mày, Đội Thân, Đức Xuân, Đội Kỳ, Phùng Chí Kiên của thị trấn Bắc Kạn và các bản Phiêng Luông, Tổng Tò, Khuổi Rờm, Nà Rào thuộc xã Dương Quang, Bản Áng thuộc xã Huyền Tụng huyện Bạch Thông.

Theo Nghị quyết kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa VI (29/12/1978) đã phê chuẩn việc phân vạch lại địa giới hành chính một số tỉnh, thành phố, trong đó có tỉnh Bắc Thái. Do vậy, hai huyện Ngân Sơn, Chợ Rã (Ba Bể) thuộc Bắc Thái được tách ra và nhập vào tỉnh Cao Bằng.
Ngày 6/11/1996, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội (khóa IX) ra Nghị quyết chia tỉnh Bắc Thái để tái lập tỉnh Bắc Kạn và tỉnh Thái Nguyên. Đồng thời, chuyển 2 huyện Ngân Sơn, Ba Bể của tỉnh Cao Bằng trở về tỉnh Bắc Kạn. Bộ Chính trị đã ra Quyết định thành lập Đảng bộ tỉnh Bắc Kạn và chỉ định Ban Chấp hành lâm thời Đảng bộ tỉnh gồm 35 đồng chí; Ban Thường vụ Tỉnh ủy lâm thời 11 đồng chí.
Ngày 1/1/1997, tỉnh Bắc Kạn được tái lập. Đây là một sự kiện chính trị quan trọng, đánh dấu bước phát triển mới của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Kạn.
Thị xã Bắc Kạn trở thành thị xã tỉnh lỵ của tỉnh Bắc Kạn và tiếp tục được mở rộng về diện tích và dân số, với 8 đơn vị hành chính (4 xã: Dương Quang, Xuất Hóa, Huyền Tụng, Nông Thượng và 4 phường: Đức Xuân, Sông Cầu, Phùng Chí Kiên, Nguyễn Thị Minh Khai), trên cơ sở 3 phường cũ của thị xã là Đức Xuân, Sông Cầu, Phùng Chí Kiên và sáp nhập thêm xã Dương Quang, xã Nông Thượng, thị trấn Nguyễn Thị Minh Khai, xã Xuất Hóa, xã Huyền Tụng của huyện Bạch Thông.
Thực hiện Nghị quyết số 892/NQ-UBTVQH13, ngày 11/3/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc thành lập 02 phường Xuất Hóa, Huyền Tụng và thành phố Bắc Kạn, toàn tỉnh có 08 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố, 7 huyện) và 122 đơn vị hành chính cấp xã (110 xã, 6 phường, 6 thị trấn).
Từ 1/2/2020, sau khi tiến hành sắp xếp lại theo Nghị quyết số 855/NQ-UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, tỉnh Bắc Kạn giảm từ 122 xã, phường, thị trấn xuống còn 108 đơn vị hành chính cấp xã (gồm 96 xã, 6 phường và 6 thị trấn).
Tiềm năng phát triển du lịch
Bắc Kạn có nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn đa dạng, phong phú, có tiềm năng lớn để phát triển du lịch.
Vườn Quốc gia Ba Bể, hồ Ba Bể là cụm du lịch đặc sắc bậc nhất không chỉ của Bắc Kạn mà còn của cả nước. Là nơi tập trung hầu hết các tài nguyên thiên nhiên với nhiều thắng cảnh Ao Tiên, Đảo Bà Góa, Đền An Mã, Động Puông, thác Đầu Đẳng, thác Tát Mạ, sông Năng; Động Hua Mạ, động Nà Phoòng (căn cứ đầu tiên của Đài tiếng nói Việt Nam), hang Thẳm Kít, hang Thẳm Phầy, những cánh rừng nguyên sinh... tạo nên cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ.
Bắc Kạn có Động Nàng tiên, Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ (Na Rỳ); Sinh vật cảnh nam Xuân Lạc, Đỉnh Phya Khao (Chợ Đồn); Hồ Bản Chang, thác Nà Khoang (Ngân Sơn); Thác Bạc, thác Rọom (thành phố Bắc Kạn)…
Bắc Kạn còn có các di tích lịch sử cách mạng thuộc khu ATK Chợ Đồn, di tích Nà Tu, di tích Đồn Phủ Thông, di tích chiến thắng Đèo Giàng...
Đến với Bắc Kạn, du khách còn có dịp được hiểu thêm về tiếng nói, chữ viết, tri thức dân gian, trang phục, kiến trúc nhà ở, nghề thủ công, văn hóa ẩm thực... rất phong phú, độc đáo và đa dạng của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Cùng với đó là phong tục, tập quán và văn hóa truyền thống đa dạng đã tạo nên nguồn tài nguyên du lịch nhân văn phong phú với các lễ hội tiêu biểu như: Lễ hội Lồng tồng Ba Bể (xã Nam Mẫu, huyện Ba Bể); Lễ hội Lồng tồng xã Hà Vị, Lễ hội Phủ Thông (huyện Bạch Thông); Lễ hội Bằng Vân (huyện Ngân Sơn); Lễ hội Mù Là, xã Cổ Linh (huyện Pác Nặm)... Cùng các làn điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc của người Tày, người Nùng, người Dao, người Mông.../.