Lào Cai đặt mục tiêu kinh tế số đạt ít nhất 20% GRDP vào năm 2030
Tỉnh Lào Cai đặt mục tiêu đến năm 2030, hình thành ít nhất 1 trung tâm hoặc đầu mối đổi mới sáng tạo cấp tỉnh; quy mô kinh tế số đạt từ 20% GRDP trở lên.
Theo Kế hoạch về phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo giai đoạn 2026-2030, Lào Cai đặt mục tiêu phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành một trong những động lực chủ yếu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế hai con số, nâng cao giá trị gia tăng và khai thác hiệu quả tiềm năng, lợi thế địa phương.
Các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ sẽ tập trung giải quyết những vấn đề thực tiễn, gắn với phát triển sản phẩm chủ lực, sản phẩm có lợi thế và các ngành, lĩnh vực có tiềm năng của tỉnh.
Hình thành ít nhất 1 trung tâm hoặc đầu mối đổi mới sáng tạo cấp tỉnh
Đến năm 2030, Lào Cai phấn đấu tổng đầu tư xã hội cho nghiên cứu và phát triển (R&D) đạt từ 2% GRDP trở lên; tỷ lệ chi ngân sách địa phương cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đạt từ 1,5% tổng chi ngân sách địa phương trở lên. Tỷ lệ chi cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số so với GRDP đạt từ 2,5% trở lên.
Tỉnh đặt mục tiêu hình thành ít nhất 1 trung tâm hoặc đầu mối đổi mới sáng tạo cấp tỉnh; quy mô kinh tế số đạt từ 20% GRDP trở lên; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng GRDP đạt từ 40% trở lên. Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) phấn đấu thuộc nhóm 15 tỉnh, thành phố dẫn đầu cả nước.
Cùng với đó, nhân lực nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ phấn đấu đạt 8-10 người/10.000 dân; 100% công chức, viên chức làm công tác quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức về chuyển đổi số và quản trị đổi mới sáng tạo.
Hằng năm có ít nhất 20 sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa
Để nâng cao hiệu quả nghiên cứu và khả năng ứng dụng vào thực tiễn, tỉnh đặt mục tiêu 100% nhiệm vụ khoa học và công nghệ được triển khai theo danh mục được cấp có thẩm quyền phê duyệt, xác định rõ sản phẩm đầu ra, địa chỉ ứng dụng và yêu cầu về hiệu quả. Tỷ lệ kết quả nhiệm vụ được ứng dụng vào thực tiễn sau 12 tháng nghiệm thu đạt từ 50% trở lên; tỷ lệ kết quả có khả năng thương mại hóa đạt từ 20% trở lên.
Tỷ lệ nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo gắn với sản phẩm chủ lực, sản phẩm có lợi thế hoặc ngành, lĩnh vực ưu tiên đạt từ 60% trở lên; tỷ lệ nhiệm vụ xác định được địa chỉ ứng dụng, đơn vị tiếp nhận, chuyển giao đạt từ 80% trở lên.
Đồng thời, tỉnh phấn đấu có ít nhất 40% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo, hình thành ít nhất 5 doanh nghiệp khoa học và công nghệ; hằng năm có ít nhất 20 sản phẩm đổi mới sáng tạo được thương mại hóa.
Kế hoạch xác định các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm gồm: hoàn thiện cơ chế, chính sách và đổi mới phương thức quản lý; huy động nguồn lực đầu tư; phát triển hạ tầng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; xây dựng đội ngũ nhân lực chất lượng cao; nâng cao năng lực làm chủ công nghệ; thúc đẩy liên kết giữa khu vực nhà nước và tư nhân, thương mại hóa kết quả nghiên cứu; mở rộng hợp tác và hội nhập quốc tế.
Tỉnh ưu tiên phát triển công nghệ số, dữ liệu và quản trị thông minh; nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, tuần hoàn; du lịch thông minh; logistics, kinh tế cửa khẩu và cửa khẩu thông minh; công nghiệp chế biến, chế tạo; thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát triển tài sản trí tuệ và đổi mới công nghệ trong doanh nghiệp.
Lào Cai sẽ từng bước đầu tư, nâng cấp hạ tầng nghiên cứu, thử nghiệm, kiểm định, đo lường và chất lượng; phát triển cơ sở dữ liệu khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, bảo đảm kết nối, chia sẻ với các cơ sở dữ liệu quốc gia theo quy định.
Tỉnh cũng định hướng xây dựng vườn ươm công nghệ, hình thành ít nhất 2 không gian sáng tạo trên địa bàn tỉnh, trang bị các phòng thí nghiệm về trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), in 3D và tổ chức các chương trình ươm tạo hỗ trợ phát triển ý tưởng đến giai đoạn thương mại hóa.
Việc triển khai các nhiệm vụ sẽ gắn với nhu cầu thực tiễn của cơ quan quản lý, doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân; khuyến khích doanh nghiệp tham gia đặt hàng, đồng tài trợ, tiếp nhận và ứng dụng kết quả nghiên cứu. Nguồn lực được huy động từ ngân sách nhà nước và các nguồn hợp pháp ngoài ngân sách, bảo đảm tập trung, trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải, trùng lặp và nâng cao hiệu quả đầu tư./.
