Ký ức cán bộ đi B truyền lửa cho thế hệ trẻ
Những người trẻ đi B năm ấy đã mang theo tuổi xuân của mình vào chiến trường. Người là giáo viên, người làm báo, người làm công tác tuyên truyền, người làm nhiệm vụ tiếp quản.
“Bây giờ có một người đi rồi thì các con phải ở nhà với bố mẹ chứ.” Tiếng khóc của cha mẹ không thể níu bước chân cô giáo trẻ Trần Thị Bích Huyền, khi ấy mới 24 tuổi, quê Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình).
Trong gia đình có ba người con, người anh đi thanh niên xung phong, người em vào bộ đội, còn bà Huyền - người con gái duy nhất - là giáo viên tình nguyện đi B.
Năm 1972, khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bước vào giai đoạn quyết liệt, bà Huyền gác lại gia đình, công việc và tuổi thanh xuân, lên đường vào chiến trường Quảng Trị. Đó là quyết định của một cô gái trẻ, nhưng cũng là lựa chọn của cả một thế hệ đã sẵn sàng gửi lại tuổi xuân nơi chiến trường, không hẹn ngày trở về.
“Lúc bấy giờ, thanh niên ai cũng viết đơn tình nguyện. Tôi là đảng viên rồi, lại theo tiếng gọi của Đảng và Nhà nước nên tôi cũng xung phong. Khi gọi lên đường là tôi sẵn sàng. Nhà tôi có ba người đi chiến trường. Bố mẹ khóc bảo: Nhà có hai người đi rồi thì con phải ở nhà với bố mẹ chứ. Tôi bảo không, đây là lời kêu gọi của Đảng và Nhà nước, con là đảng viên thì phải đi. Bố mẹ phải nén lại những tình cảm đó để cho chúng con đi phục vụ Nhà nước,” bà Huyền kể.
Chiều hôm ấy, khi bà Huyền lên đường, cha mẹ vẫn ra ngoài đường ngóng đợi, hy vọng có người con nào trở về thăm.
Hiểu rằng trong chiến tranh, cuộc chia tay có thể không có ngày hẹn, bà nói với cha mẹ: “Chiến tranh thì không có ngày để về thăm đâu, bố mẹ cứ yên tâm, khi nào chúng con có điều kiện thì chúng con về.”
Trên đường hành quân, điều bà đau đáu là muốn gửi cho bố mẹ một bức thư để báo tin, nhưng điều đó cũng không thực hiện được.

“Không ai nghĩ đến ngày trở về”
Năm 1972, bà Huyền cùng đoàn giáo viên lên đường vào chiến trường. Tờ giấy điều động chỉ ghi ký hiệu “G2.” Chỉ đến khi đặt chân lên Gio Linh, bà mới biết nơi mình đến là chiến trường Quảng Trị.
Hành trình ấy bắt đầu bằng những ngày đi bộ trên những cung đường Trường Sơn. Mỗi người mang theo ba lô, sách giáo khoa từ lớp 1 đến lớp 5 và 3 kg gạo. Có ngày hành quân 40 km. Mưa Khu 4 trút xuống tầm tã, đường trơn trượt. Đến bữa, cơm vừa chín tới đã phải ăn vội để kịp giờ xuất phát.
“Đi bộ một ngày 40 cây số, đeo ba lô, mang theo cả bộ sách từ lớp 1 đến lớp 5 và 3 cân gạo. Mưa thì tầm tã. Cơm tám rưỡi, tức là cơm chưa chín hẳn đã phải ăn để 4 giờ xuất phát,” bà Huyền nhớ lại.
Có những lúc đi qua những vùng người dân trồng rau lang, nhìn những cọng rau mới trồng còn ngả vàng, cả đoàn thèm đến nao lòng.
“Có đấy mà không được ăn. Chúng tôi được dặn không lấy bất cứ thứ gì của dân,” bà Huyền kể.
Đến Vĩnh Linh, Quảng Trị, đoàn phải nằm địa đạo chờ thời cơ. Khi vượt qua cầu Hiền Lương, bom đạn vẫn dội xuống. Đoàn của bà may mắn không ai bị thương, nhưng một đoàn thanh niên xung phong đi sau đã bị đánh bom.
Bà đã trải qua những đêm hành quân trong im lặng. “Giao liên dặn: đi không dấu, nói không tiếng… Đi trong mưa tầm tã, mỗi người một cây gậy, ba lô trên vai. Rất gian khổ,” bà Huyền nói.
Đến Quảng Trị, trước mắt những người giáo viên trẻ là một vùng đất hoang tàn. Nhà cửa bị bom đạn phá tan nát, những hàng tre bị xé vụn.
Bà Huyền được phân công về Triệu Phong, làm hiệu trưởng Trường Tiểu học Triệu Lễ. Trong điều kiện thiếu giáo viên, một người phải dạy nhiều lớp, nhiều lứa tuổi. Có những em là du kích, chỉ mới học đến lớp 2, lớp 3.
Công việc của người giáo viên lúc ấy không chỉ là dạy chữ mà còn làm công tác tuyên truyền, giải thích cho người dân hiểu về cách mạng, về miền Bắc, về con đường mà cả dân tộc đang đi.
“Nhiều người nói họ không biết cộng sản là thế nào. Trước đó, họ được tuyên truyền là ‘bảy cộng sản mới leo gãy một cành đu đủ’,” bà Huyền kể.
Đó cũng là thời điểm đất nước đang chuẩn bị cho một bước ngoặt lịch sử. Những người đi B vào chiến trường trong những ngày chuẩn bị cho việc ký kết Hiệp định Paris.
Ngày 8/10/1972, phái đoàn Việt Nam đưa cho Mỹ bản dự thảo “Hiệp định về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam” và đề nghị thảo luận để đi đến ký kết. Ngày 20/10, hai bên đạt được thỏa thuận cuối cùng, dự kiến ký Hiệp định ngày 31/10/1972. Tuy nhiên, Mỹ sau đó đã lật lọng.
Chiến tranh chưa kết thúc và những người đi B vẫn chưa thể trở về.
“Chúng tôi vào trước thời điểm chuẩn bị ký Hiệp định Paris nhưng cuối cùng không ký được. Chúng tôi phải ở lại, tiếp tục công tác”, bà Huyền nhớ lại.
Trong những ngày ấy, không ai biết mình sẽ còn phải ở lại bao lâu. Cũng không ai biết mình có trở về hay không.
“Chưa bao giờ nghĩ đến ngày trở về. Đi đến nơi không biết mình có trở về không. Chỉ có một quyết tâm duy nhất là đi,” bà nói.
Những người cùng thế hệ với bà Huyền đã lên đường trong một tâm thế như vậy.

“Không có gì lăn tăn, chỉ biết đi”
Lặng lẽ nhìn những hồ sơ, kỷ vật của một thời tuổi trẻ được trưng bày, ông Nguyễn Văn Miến, ở Tây Tựu, Hà Nội, nhớ về 53 năm trước, khi ông cùng khoảng 50-60 giáo viên Hà Nội lên đường vào chiến trường Quảng Trị.
Ông nhớ nhất hình ảnh những người lính, những giáo viên trẻ hành quân trong mưa. Đường lầy lội, không có chỗ nghỉ. Ba lô nặng 35-40 kg trên vai.
“Chúng tôi phải đứng, chống hai tay vào đầu gối, trên vai là ba lô con cóc, trông như những con lạc đà đi trong mưa”, ông Miến kể.
Có những chặng đường đi bằng xe “vọt tiến” của Trung Quốc. Đường Trường Sơn xóc đến mức những cô gái mảnh mai có thể bị hất khỏi xe, những người đồng đội nam phải ôm bạn vào lòng để giữ cho bạn không bị bật ra ngoài.
“Lúc đó chúng tôi không nghĩ gì đến chuyện trai gái cả. Đấy chỉ là tình đồng đội. Tình đồng đội rất thiêng liêng”, ông Miến nói.
Hơn nửa thế kỷ trôi qua, hình ảnh ấy vẫn còn nguyên trong ký ức ông. Chia sẻ tâm thế của những người trẻ trước giờ lên đường, ông cho biết đó là nhiệt huyết của tuổi trẻ.
“Tôi là giáo viên được đi B cùng đoàn giáo dục Hà Nội nên tự hào lắm. Không có gì lăn tăn, chỉ biết đi. Không nghĩ đến ngày về”, ông Miến kể.
Cũng trong năm 1973, cô gái 23 tuổi Trần Thị Phú Bình viết đơn tình nguyện đi B. Người con gái Hà Nội muốn được trải nghiệm cuộc sống gian khổ mà những người chiến sĩ đã trải qua. Sau ba tháng huấn luyện, đeo gạch, vượt đèo tại Trường K105, bà lên đường vào chiến trường miền Đông Nam Bộ.
“Lúc bấy giờ đã là năm 1973 rồi, không còn cơ hội nào nữa, cho nên tôi đã quyết định tình nguyện để đi”, bà Bình kể.
Những gì chờ đợi bà sau đó khắc nghiệt hơn nhiều so với tưởng tượng. Có lần vượt sông Hàm Luông, bà không biết bơi. Giao liên hỏi có biết “lội” không. Bà trả lời “có”, bởi không hiểu “lội” là cách gọi bơi của người miền Nam.
Đến giữa dòng, người giao liên phải tháo dây võng buộc vào tay bà. Một tay bà nắm dây, một tay cầm khẩu K54 giơ lên. Chiếc túi nilon đựng quần áo được dùng như một chiếc phao.
Người đồng đội kéo bà vượt sông trong tiếng tàu địch vọng lại từ xa. Đặt chân lên bờ, họ lập tức chạy trong đêm, qua ấp chiến lược, qua những gốc dừa cạn, chân trầy xước, máu chảy.
“Không phải sợ chết, mà chỉ sợ mình rơi vào tay địch thì không hoàn thành nhiệm vụ,” bà Bình nhớ lại.
Những người trẻ đi B năm ấy đã mang theo tuổi xuân của mình vào chiến trường. Người là giáo viên, người làm báo, người làm công tác tuyên truyền, người làm nhiệm vụ tiếp quản. Mỗi người một hoàn cảnh, một con đường, nhưng cùng chung một lựa chọn: lên đường.
Những bộ hồ sơ giữ lại một thời tuổi trẻ
Những người còn sống hôm nay gặp lại nhau giữa những hồ sơ, kỷ vật trong trưng bày tài liệu lưu trữ và kỷ vật của cán bộ đi B. Có người tìm thấy tên mình trong một tờ lý lịch. Có người nhận ra đồng đội qua những hiện vật.
Mỗi kỷ vật đều có một câu chuyện.
Những lá đơn tình nguyện, cuốn nhật ký, thư từ, ảnh gia đình cùng nhiều giấy tờ, hiện vật được lưu giữ suốt hàng chục năm đã góp phần khắc họa chân thực lý tưởng cách mạng, tinh thần cống hiến và sự hy sinh của một thế hệ.
Cũng là một trong những người từng đi B, ông Phạm Quang Nghị, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Bí thư Thành ủy Hà Nội, cho rằng những kỷ vật ấy có thể rất nhỏ bé, nhưng khi được nhìn lại, chúng mở ra cả một quá khứ.
“Với tôi, lúc bấy giờ không nhất thiết phải đi bộ đội vì là con một độc nhất. Nhưng tôi vẫn tình nguyện ra chiến trường. Suy nghĩ lúc đó là Tổ quốc trên hết. Nếu lúc này không làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, không làm nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước thì không còn dịp nào, không còn cơ hội nào nữa,” ông Phạm Quang Nghị chia sẻ.
Hiện nay, hơn 72.000 hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ quốc gia III. Đây là nguồn tư liệu có giá trị đặc biệt, phục vụ nghiên cứu lịch sử, giải quyết chế độ, chính sách đối với người có công với cách mạng cũng như công tác tìm kiếm, xác minh thông tin liệt sĩ.
Theo ông Đặng Thanh Tùng, Cục trưởng Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước, những hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B không chỉ cung cấp thông tin về quá trình tham gia của cán bộ dân sự trong chiến trường B mà còn mang giá trị tinh thần rất lớn.
“Đó là những thông điệp gửi đến cho giới trẻ về lòng yêu nước, về tính quật cường, bất khuất của dân tộc và về sự sẵn sàng chiến đấu, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc của thế hệ các chú, các bác, các anh,” ông Đặng Thanh Tùng nhấn mạnh.
Sau hơn nửa thế kỷ, khi nhìn những kỷ vật của đồng đội, bà Huyền lại nhớ đến những người đã không trở về. Trong đoàn của bà, có người mới vào chiến trường được vài ngày đã hy sinh. Có những người cùng quê, cùng ngành, cùng lên đường nhưng rồi nằm lại nơi chiến trường.
Bà Huyền cho biết, ngày ấy, không ai nghĩ đến việc sau này hồ sơ của mình sẽ được lưu giữ ra sao. Cũng không ai nghĩ đến việc mình sẽ được vinh danh hay được tri ân. Ai cũng chỉ có một quyết tâm duy nhất là đi. Không ai nghĩ sau này sẽ như thế nào, có lưu hồ sơ hay không.
“Chúng tôi không mong lại chiến tranh. Chúng tôi chỉ mong xây dựng đất nước hòa bình”, bà Huyền nói.
Và đó cũng là điều những ký ức, hồ sơ, kỷ vật của cán bộ đi B đang tiếp tục gửi gắm đến thế hệ hôm nay: biết trân trọng hòa bình, rèn luyện đạo đức, phát huy truyền thống của cha anh, sống có trách nhiệm với đất nước và góp phần xây dựng Việt Nam ngày càng hùng mạnh, bền vững.
Những người đi B năm xưa đã gửi lại thanh xuân của mình.
Hôm nay, những ký ức ấy trở về, không chỉ để nhắc nhớ một thời tuổi trẻ đã qua mà còn để truyền lửa cho những thế hệ đang tiếp bước. Trong không gian trưng bày mang tên “Thanh xuân gửi lại”, giữa những tiếng cười rộn rã của những người may mắn trở về, có những khoảng lặng khi câu chuyện về đồng đội đã nằm lại nơi chiến trường được nhắc đến./.
