Khi Tổ quốc gọi tên, những người trẻ viết đơn tình nguyện lên đường
Nhiều cán bộ đi B đã trở về sau ngày đất nước thống nhất nhưng cũng có rất nhiều người đã hy sinh, nằm lại trên những chiến trường mà đến nay thông tin về nơi an nghỉ vẫn chưa được xác định đầy đủ.
Tôi đứng khá lâu trước lá đơn tình nguyện đi B của Nguyễn Văn Quyến, một thanh niên 19 tuổi, đoàn viên Chi đoàn Nguội, Trường Công nhân kỹ thuật I, Đông Anh, Hà Nội.
Lá đơn được viết tại Hà Bắc ngày 13/9/1971. Những dòng chữ trên tờ giấy ô ly đã ngả màu thời gian cho thấy tinh thần sôi nổi, quyết liệt của một thế hệ thanh niên lớn lên trong chiến tranh, khi khát vọng được cống hiến cho đất nước trở thành lựa chọn tự nhiên và mạnh mẽ.
Nguyễn Văn Quyến viết về cuộc chiến tranh đang diễn ra trên cả hai miền Nam, Bắc; về những làng mạc, thành thị bị tàn phá, những người dân bị sát hại, những em nhỏ, cụ già và phụ nữ mang thai là nạn nhân của bom đạn và chất độc hóa học.
Anh cũng nhắc đến quê hương mình, nơi đang phải hứng chịu những trận bom của máy bay Mỹ.
Trước những tội ác của kẻ thù, người đoàn viên 19 tuổi viết: “Chẻ tre rừng làm bút, tát cạn Biển Đông làm mực cũng không thể nào kể hết được tội ác của chúng.”
Từ lòng căm thù giặc, Nguyễn Văn Quyến bày tỏ nguyện vọng được nhập ngũ, được cầm súng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Anh cho rằng là một đoàn viên thanh niên đang ở tuổi thanh xuân, được sống dưới mái trường xã hội chủ nghĩa, “không thể nào ngồi yên được trước cảnh nước mất nhà tan.”
Từng viết đơn trong những đợt trước nhưng chưa được đi, lần này, anh tha thiết đề nghị Hội đồng quân sự nhà trường xét duyệt cho mình được lên đường. Gia đình chưa có ai tham gia bộ đội, vì vậy anh mong muốn trở thành người đầu tiên của thế hệ mình góp sức vào cuộc chiến đấu giải phóng dân tộc.
“Bằng bất kỳ giá nào Hội đồng quân sự nhà trường cũng cố gắng giúp đỡ và giải quyết cho tôi được đi làm nhiệm vụ ngay trong đợt này,” người thanh niên viết, đồng thời khẳng định: “Mặc dù có phải chịu mọi khó khăn, vượt mọi gian khổ tôi cũng quyết tâm hoàn thành nhiệm vụ.”
Điều đặc biệt là sáu chữ “Đơn xin tình nguyện,” phần ký tên “Nguyễn Quyến” và ba dấu điểm chỉ đều được viết, điểm bằng máu. Chi tiết ấy khiến lá đơn trở thành một tư liệu đặc biệt, cho thấy sự thôi thúc mãnh liệt của người thanh niên muốn được ra trận, được trực tiếp góp sức vào cuộc chiến đấu của dân tộc.
Những người trẻ không muốn đứng ngoài cuộc chiến
Trong những hồ sơ cán bộ đi B đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III, thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước, Bộ Nội vụ, còn rất nhiều lá đơn thể hiện tinh thần tình nguyện lên đường như vậy.
Đó là những người đang ở tuổi đôi mươi, có người là giáo viên, nhà báo, bác sỹ, văn nghệ sỹ, cán bộ kỹ thuật; có người là con độc nhất trong gia đình, cũng có người sinh ra trong những gia đình có điều kiện, đang có một cuộc sống ổn định. Mỗi người một hoàn cảnh, nhưng khi đất nước cần, họ đã cùng lựa chọn lên đường.
Có gia đình cha con nối tiếp nhau vào bộ đội; có gia đình anh, chị, em cùng tham gia chiến đấu; có những gia đình cả vợ và chồng cùng tình nguyện vào chiến trường.

Với họ, được đi B là nhiệm vụ, đồng thời là niềm vinh dự của tuổi trẻ. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, họ hiểu rằng nếu không góp sức vào cuộc chiến đấu lúc ấy thì có thể sẽ không còn cơ hội nào khác để thực hiện lý tưởng của mình.
Nhà văn, nhà báo Dương Thị Xuân Quý là một trong những người như thế.
Năm 1965, khi mới 24 tuổi, nữ phóng viên Báo Phụ nữ Việt Nam viết đơn xin được vào miền Nam chiến đấu. Chị khẳng định: “Miền Nam cần tôi làm gì, ở đâu, tôi sẵn sàng nhận nhiệm vụ, không mảy may tính toán.”
“Tôi không sợ gian khổ, hy sinh, chỉ sợ không được chọn làm những việc vinh quang để phục vụ cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược,” Dương Thị Xuân Quý viết.
Chị tự hỏi, những thế hệ đi trước, dù còn rất trẻ, đã từng xông vào những mặt trận gian khổ nhất để làm cách mạng, “vậy vì sao bây giờ tôi lại không thể được đi?”
Trong lá đơn, chị khẳng định: “Nếu phải hy sinh tính mạng, tôi sẵn sàng, không một mảy may tính toán. Tôi không sợ chết, tôi chỉ sợ tôi không xứng đáng để được chọn làm những nhiệm vụ vinh quang là hy sinh xương máu, hy sinh tính mạng cho sự nghiệp giải phóng miền Nam.”
Tuy nhiên, phải đến tháng 4/1968, nguyện vọng của chị mới được chấp thuận. Gửi lại con gái Dương Hương Ly mới 16 tháng tuổi cho mẹ ruột chăm sóc, ngày 14/6/1968, Dương Thị Xuân Quý lên đường vào chiến trường Quảng Nam. Chồng chị, nhà thơ Bùi Minh Quốc, đã vào Nam trước đó.
Mang theo nỗi nhớ của một người mẹ và trách nhiệm của một người chiến sỹ, nhà báo, trên đường hành quân, chị viết cho con gái: “Bằng giờ tuần trước, mẹ đang tắm cho Ly đấy Ly ơi. Hôm nay là chủ nhật, mẹ và bố chẳng về với Ly được. Ly sẽ phải chịu nhiều ngày chủ nhật vắng mẹ, vắng bố như thế. Nhưng mẹ tin rằng Ly sẽ khỏe mạnh và sẽ lớn lên như nghị lực của mẹ, sức khỏe và ý chí của mẹ.”
Trong một lá thư khác, chị viết: “Mẹ sẽ vượt qua tất cả: sự vất vả, nỗi gian khổ và những khó khăn... Mẹ sẽ hết sức tranh thủ để có thể viết được, con nhé.”
Đêm 8/3/1969, trong một trận càn ác liệt của lính Nam Triều Tiên, Dương Thị Xuân Quý đã hy sinh ở tuổi 28.
Đi vào chiến trường, gửi lại hậu phương
Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước, cùng với bộ đội chủ lực, thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến, hàng vạn giáo viên, nhà báo, bác sỹ, văn nghệ sỹ, cán bộ kỹ thuật và chuyên gia đã vượt Trường Sơn vào miền Nam chi viện cho cách mạng.
Đối với cán bộ đi B, hành trình vào chiến trường bắt đầu bằng việc rời bỏ cuộc sống quen thuộc ở hậu phương. Họ phải gửi lại giấy tờ, tư trang, những gì gắn với cuộc sống cá để bảo đảm bí mật. Không phải ai cũng biết mình sẽ đi bao lâu, bao giờ trở về. Với nhiều người, cuộc chia tay ngày ấy cũng là lần cuối cùng họ gặp gia đình.
Nhiều cán bộ đi B đã trở về sau ngày đất nước thống nhất. Nhưng cũng có rất nhiều người đã hy sinh, nằm lại trên những chiến trường mà đến nay thông tin về quá trình chiến đấu và nơi an nghỉ vẫn chưa được xác định đầy đủ.
Những người may mắn trở về hôm nay đều đã ở tuổi cao. Hơn nửa thế kỷ trôi qua, ký ức về chiến tranh và những người đồng đội vẫn còn nguyên trong tâm trí họ. Đó là ký ức về những người đã cùng lên đường, cùng sống, chiến đấu, chia sẻ gian khổ nhưng không có ngày trở về.
Tháng Bảy - tháng của tưởng nhớ và tri ân các Anh hùng liệt sỹ, thương binh, bệnh binh, những người có công với cách mạng.Những lá đơn tình nguyện đi B, những bộ hồ sơ, bức thư, cuốn nhật ký, tấm ảnh và kỷ vật của cán bộ đi B không chỉ là những tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử. Qua đó, thế hệ hôm nay có thể hình dung rõ hơn về những con người đã cống hiến tuổi trẻ và cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.
Họ từng là những người trẻ như Nguyễn Văn Quyến, từng có gia đình, ước mơ và những dự định riêng như Dương Thị Xuân Quý nhưng khi đất nước cần, họ đã tình nguyện lên đường. Nhiều người trở về, nhiều người hy sinh và mãi mãi nằm lại trên những chiến trường năm xưa.

5 giờ ngày 27/7/2026, chùa Quán Sứ - Trụ sở Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và hơn 18.000 ngôi chùa, cơ sở tự viện trong cả nước cùng cử hành ba hồi chuông, trống Bát nhã tưởng niệm, tri ân các Anh hùng liệt sỹ đã hy sinh vì độc lập dân tộc, vì sự nghiệp thống nhất đất nước, vì cuộc sống bình yên của nhân dân.
Theo Thượng tọa Thích Đức Thiện, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tháng Bảy hằng năm là thời gian cả nước lắng đọng hướng về các liệt sỹ, thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn,” “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc.
Đối với người con Phật, đây cũng là sự thực hành đạo lý tứ ân, trong đó có ân Tổ quốc và ân những người đã hy sinh xương máu để đất nước có được cuộc sống độc lập hôm nay.
Năm nay, các hoạt động tri ân càng có ý nghĩa khi cả nước đang thực hiện Chiến dịch “500 ngày đêm tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sỹ.” Tổ quốc linh thiêng! Đã có biết bao triệu người lấy thân mình che chở. Và có biết bao người khi Tổ quốc gọi tên, không một phút giây chần chừ, bước vào nơi gian khổ nhất.
Mỗi tiếng chuông vang lên là một lời tưởng niệm đối với những người đã hy sinh, đồng thời nhắc nhở thế hệ hôm nay về cái giá của hòa bình và trách nhiệm gìn giữ, phát huy những thành quả mà các thế hệ đi trước đã phải đánh đổi bằng tuổi trẻ, máu xương và cả tính mạng./.
