Hướng đi xanh từ phát triển kinh tế dưới tán rừng
Khi người dân có thể sống được từ rừng, việc giữ rừng không còn là yêu cầu, mà trở thành lựa chọn tự nhiên; những cánh rừng là tài nguyên, trở thành nền tảng cho tương lai lâu dài của cả cộng đồng.
Giữa đại ngàn phía Tây thành phố Đà Nẵng, những cánh rừng pơ mu vẫn vươn lên giữa mây núi, trầm mặc và bền bỉ qua hàng trăm năm.
Ở đó, người Cơ Tu không chỉ sống cùng rừng, mà còn giữ rừng như một phần máu thịt. Từ những giá trị văn hóa được gìn giữ qua nhiều thế hệ, đến những mô hình sinh kế mới dưới tán rừng, một cách tiếp cận bền vững đang dần hình thành, mở ra hướng đi lâu dài cho vùng cao.
Rừng di sản, nơi người Cơ Tu giữ lời hẹn với đại ngàn
Giữa không gian rừng già ở xã Hùng Sơn, thành phố Đà Nẵng, tiếng chiêng ngân lên trong lễ tạ ơn rừng. Già làng trang nghiêm thực hiện nghi lễ, gửi lời khấn đến “Giàng rừng,” cầu mong mưa thuận gió hòa, bản làng bình yên. Không khí buổi lễ sôi động.
Người dân đứng thành vòng tròn, nhảy điệu tâng tung da dá. Với họ, rừng không chỉ là nơi sinh sống, mà còn là không gian thiêng, nơi gắn với niềm tin và những quy ước đã ăn sâu vào đời sống.
Những cánh rừng pơ mu ở Hùng Sơn được giữ gìn bằng chính ý thức cộng đồng. Không chặt cây lớn, không xâm phạm rừng thiêng, không săn bắt tùy tiện, những quy ước ấy không cần văn bản, nhưng vẫn được tuân thủ qua nhiều thế hệ.
Già làng Hốih Mia cho biết, mỗi cây pơ mu lớn trong rừng đều được người dân nhớ rõ vị trí, hình dáng, thậm chí gọi bằng những cái tên riêng. “Người dân không xem pơ mu là cây gỗ bình thường, mà coi đó là rừng thiêng, là nơi giữ nước, giữ đất. Nhiều cây được gọi theo dáng hoặc theo nơi nó đứng để dễ nhận biết, nhắc nhau cùng giữ,” ông Hốih Mia nói.
Chính từ cách nhìn ấy, rừng được bảo vệ không phải bằng mệnh lệnh hành chính, mà bằng niềm tin. Ai cũng hiểu, nếu rừng mất đi, nguồn nước cạn kiệt, đất đai xói mòn, cuộc sống của bản làng cũng sẽ thay đổi.

Càng đi sâu vào rừng, những cây pơ mu cổ thụ hiện ra, thân lớn vài người ôm không xuể, rễ nổi, thân phủ rêu, tán vươn cao giữa nhiều tầng sinh thái. Quần thể pơ mu tại Hùng Sơn nằm ở độ cao khoảng 1.500m, với hàng trăm hecta rừng tự nhiên còn khá nguyên vẹn.
Trong đó có 725 cây đã được công nhận là Cây Di sản Việt Nam, nhiều cây có tuổi đời từ vài trăm đến hàng nghìn năm. Những thân cây đứng lặng giữa đại ngàn, như những “cột sống” của núi, giữ lại hình hài của rừng qua thời gian.
Không gian nguyên sơ ấy cũng đang trở thành điểm đến thu hút du khách. Giữa rừng, không khó bắt gặp những người dừng lại thật lâu trước một gốc pơ mu lớn, đưa tay chạm vào thân cây, hay chỉ lặng im nhìn lên tán lá.
Anh Thái Văn Đồng, du khách đến từ Quảng Bình cho biết, điều ấn tượng nhất không chỉ là những cây cổ thụ, mà là cách người dân giữ rừng. “Không gian còn rất nguyên bản. Điều khiến tôi ấn tượng là người dân coi rừng như tài sản phải giữ bằng mọi giá, chứ không phải khai thác bằng hết,” anh Thái Văn Đồng nói.
Không chỉ cảnh quan, những nghi lễ như tạ ơn rừng, cách ứng xử với rừng của người Cơ Tu cũng tạo nên sức hút riêng. Từ đó, Hùng Sơn đang dần mở ra hướng phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng gắn với thiên nhiên và văn hóa bản địa.
Theo ông Nguyễn An, Bí thư Đảng ủy xã Hùng Sơn, địa phương xác định du lịch là một trong những hướng đột phá, với lợi thế về cảnh quan và khí hậu mát mẻ. Nhiều thôn bản đã chủ động làm nhà sàn để đón khách, từng bước hình thành mô hình du lịch cộng đồng.
“Định hướng của xã là phát triển du lịch gắn với rừng pơ mu, rừng đỗ quyên và các điểm dọc tuyến biên giới. Tuy nhiên, quan điểm xuyên suốt là không đánh đổi tài nguyên lấy tăng trưởng ngắn hạn, phải đặt bảo tồn lên hàng đầu,” ông Nguyễn An nhấn mạnh.
Lấy rừng nuôi rừng

Nếu như trước đây, rừng chủ yếu gắn với khai thác, thì nay, dưới những tán cây xanh, một cách làm khác đang dần hình thành: phát triển sinh kế mà không làm tổn hại đến rừng.
Trên những triền núi ở phía Tây thành phố Đà Nẵng, các loại dược liệu như ba kích, sâm bảy lá một hoa được trồng dưới tán rừng tự nhiên. Không cần phát dọn, không cần tưới, cây vẫn sinh trưởng nhờ độ che phủ của rừng.
Anh Bhling Miêng, Giám đốc Hợp tác xã Nông dược và Du lịch Lộc Trời cho biết, nhiều loại dược liệu ưa môi trường rừng với độ che phủ cao như: ba kích cần độ che phủ khoảng 70-80%, các loại sâm cần độ che phủ cao hơn sẽ cho sản phẩm chất lượng tốt.
Để phát triển các mô hình này, nhiều hộ dân đã tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam, trong đó có chính sách nâng mức vay theo Nghị định 338/2025/NĐ-CP của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Việc làm về chính sách hỗ trợ tạo việc làm.
Từ nguồn vốn hơn 200 triệu đồng, hợp tác xã đã mở rộng sản xuất, tăng đàn vật nuôi và trồng thêm dược liệu. “Thời gian tới, chúng tôi mong muốn được tiếp cận nguồn vốn lớn hơn, khoảng 500 triệu đồng, với thời gian vay dài hơn để phù hợp chu kỳ sản xuất,” anh Miêng cho biết.
Theo ông Võ Trung Dũng, Tổ trưởng tổ kế hoạch nghiệp vụ Phòng giao dịch Tây Giang, Ngân hàng Chính sách xã hội thành phố Đà Nẵng, sau khi chính sách mới có hiệu lực, ngân hàng đã triển khai cho vay tại cơ sở, lựa chọn các mô hình phù hợp.
Đã có nhiều hộ dân tại các xã được vay vốn với tổng dư nợ hàng chục tỷ đồng. Phần lớn tập trung vào trồng dược liệu và chăn nuôi, từng bước hình thành các mô hình kinh tế ổn định.
Nguồn vốn không chỉ giúp người dân có điều kiện sản xuất, mà còn góp phần thay đổi nhận thức. Ông Riáh Ka, một hộ dân tại địa phương cho biết, gia đình đã sử dụng vốn vay để đầu tư trồng cây lâu năm, xen canh dưới tán rừng.

Tư duy “lấy rừng nuôi rừng” đang dần hình thành, khi người dân hiểu rằng giữ rừng chính là cách để duy trì sinh kế lâu dài. Tuy vậy, việc phát triển sinh kế dưới tán rừng vẫn còn những khó khăn, đặc biệt là đầu ra cho sản phẩm và thiếu doanh nghiệp đầu tư một cách bài bản.
Ông Arat Blúi, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân xã Tây Giang cho biết, khu vực này có điều kiện phù hợp để phát triển nhiều loại dược liệu, nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao do thiếu liên kết thị trường. Địa phương rất cần các doanh nghiệp, nhà khoa học tham gia để nâng cao chất lượng, quy hoạch vùng trồng và đảm bảo đầu ra.
Bên cạnh dược liệu, địa phương cũng tính toán phát triển thêm các mô hình “lấy ngắn nuôi dài” như mây tre, kết hợp với du lịch cộng đồng để tạo thêm nguồn thu.
Theo ông Nguyễn An, phát triển sinh kế dưới tán rừng là hướng đi lâu dài, nhưng phải gắn chặt với bảo vệ tài nguyên. Những cây dược liệu có khi mất 5 đến 7 năm mới cho thu hoạch, nên cần có giải pháp hỗ trợ để người dân yên tâm bám rừng. Quan điểm địa phương là phát triển kinh tế, nhưng không làm ảnh hưởng đến hệ sinh thái.
Từ những cánh rừng pơ mu được gìn giữ bằng niềm tin, đến những mô hình sinh kế đang hình thành dưới tán rừng, một vòng tuần hoàn bền vững đang dần rõ nét ở vùng cao Đà Nẵng.
Khi người dân có thể sống được từ rừng, việc giữ rừng không còn là yêu cầu, mà trở thành lựa chọn tự nhiên. Từ đó, những cánh rừng không chỉ còn là tài nguyên, mà trở thành nền tảng cho tương lai lâu dài của cả cộng đồng./.
Xuân Quý – Khoa Chương
