Hội nghị Trung ương 3: Xây dựng xã hội phát triển bao trùm, nhân văn và bền vững
Hội nghị Trung ương 3 đề ra chiến lược xây dựng xã hội hài hòa, phát triển bền vững, lấy con người làm trung tâm, nâng cao chất lượng sống và gắn kết xã hội.
Tại Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Trung ương thống nhất thông qua Đề án xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển, xác định xây dựng con người, văn hóa, pháp luật, kỷ cương và môi trường xã hội lành mạnh là những nội dung cốt lõi, bảo đảm mọi thành quả phát triển thực sự nâng cao chất lượng sống và hạnh phúc của nhân dân.
Lấy con người làm trung tâm
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Tuấn Hưng, Viện trưởng Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ, đồng Chủ tịch Liên minh các cơ quan nghiên cứu Đồng bằng sông Cửu Long, Hội nghị Trung ương 3 khóa XIV tiếp tục khẳng định một quan điểm có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới, đó là phát triển nhanh nhưng phải bền vững, lấy con người làm trung tâm, chủ thể và mục tiêu của sự phát triển.
Đây không chỉ là một định hướng về kinh tế mà còn là một triết lý phát triển mang tính toàn diện, phản ánh sự kế thừa và phát triển tư duy của Đảng về phát triển con người trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên chuyển đổi số, hội nhập quốc tế sâu rộng và đổi mới mô hình tăng trưởng.
Phân tích những giải pháp nhằm hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một xã hội phát triển hài hòa, văn minh và bền vững, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Tuấn Hưng cho rằng điều quan trọng nhất là phải quán triệt quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm trong toàn bộ quá trình hoạch định và thực thi chính sách.

Mọi chiến lược, chương trình phát triển cần hướng đến nâng cao chất lượng cuộc sống, phát triển toàn diện con người và bảo đảm sự phát triển cân bằng giữa kinh tế, văn hóa, xã hội và môi trường; tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển theo hướng hiện đại, đồng bộ và lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.
Một nền quản trị quốc gia hiệu quả phải dựa trên nguyên tắc minh bạch, trách nhiệm giải trình, chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu. Xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội và người dân trong quá trình xây dựng và thực thi chính sách, qua đó tạo sự đồng thuận và huy động sức mạnh của toàn xã hội.
Bên cạnh đó, cần coi phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là ưu tiên chiến lược. Trong bối cảnh khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi sâu sắc phương thức sản xuất và quản trị xã hội, Việt Nam cần đầu tư mạnh mẽ hơn cho giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ, đồng thời xây dựng hệ sinh thái đổi mới sáng tạo quốc gia.
Đặc biệt, cần chú trọng nâng cao kỹ năng số, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng và học tập suốt đời của người lao động để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức và kinh tế số.
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Tuấn Hưng, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội theo hướng toàn diện, bao trùm và bền vững.
Bên cạnh việc mở rộng các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và hỗ trợ việc làm, cần xây dựng các cơ chế bảo vệ những nhóm dễ bị tổn thương trước những tác động của già hóa dân số, biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và chuyển đổi công nghệ.
Phát triển phải đi đôi với việc bảo đảm cơ hội tiếp cận bình đẳng các dịch vụ cơ bản và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, miền và các nhóm dân cư.
Cùng với đó, phát huy mạnh mẽ vai trò của văn hóa như một nguồn lực nội sinh và động lực phát triển bền vững. Văn hóa không chỉ góp phần bồi đắp bản sắc dân tộc mà còn tạo nên sức mạnh mềm và sự gắn kết xã hội.
Vì vậy, cần tiếp tục xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam trong thời kỳ mới; đồng thời quan tâm bảo tồn di sản văn hóa, phát triển công nghiệp văn hóa và xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong cả không gian thực và không gian số; phát triển vùng và đô thị theo hướng cân bằng, xanh và thông minh cũng là yêu cầu quan trọng.

Quá trình đô thị hóa cần gắn với quy hoạch tích hợp, phát triển hạ tầng đồng bộ, bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và nâng cao chất lượng không gian sống.
Đồng thời, cần có các chính sách thúc đẩy liên kết vùng, khai thác hiệu quả tiềm năng và lợi thế của từng địa phương, bảo đảm sự phát triển hài hòa giữa các vùng kinh tế, đặc biệt là các vùng động lực như Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Tuấn Hưng cũng cho rằng cần phát huy mạnh mẽ vai trò của khoa học xã hội và nhân văn trong nghiên cứu, dự báo và tư vấn chính sách.
Những biến đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại đang đặt ra nhiều vấn đề mới như già hóa dân số, chuyển đổi việc làm do trí tuệ nhân tạo, bất bình đẳng số, di cư, biến đổi cấu trúc gia đình hay quản trị xã hội trong môi trường số.
Khoa học xã hội cần đi trước một bước trong việc nhận diện xu hướng, cung cấp luận cứ khoa học và đề xuất các giải pháp chính sách nhằm bảo đảm phát triển hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, tiến bộ xã hội và phát triển con người.
Bày tỏ tin tưởng vào triển vọng phát triển của đất nước, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Vũ Tuấn Hưng khẳng định các mục tiêu đề ra sẽ khả thi và hiện thực hóa. Khi đó, Việt Nam không chỉ đạt được tốc độ tăng trưởng cao mà còn xây dựng được một xã hội phát triển bao trùm, nhân văn và bền vững. Đây cũng chính là nền tảng để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc vào giữa thế kỷ XXI theo các mục tiêu mà Đảng đã đề ra.
Thu hẹp khoảng cách phát triển, củng cố gắn kết xã hội
Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đức Chiện, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam), xây dựng xã hội văn minh, hài hòa không chỉ gắn với tăng trưởng kinh tế mà còn liên quan đến khả năng tiếp cận các cơ hội phát triển, chất lượng sống và mức độ gắn kết xã hội.
Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần nhưng chưa phải là điều kiện đủ để xây dựng một xã hội văn minh và phát triển bền vững. Điều quan trọng hơn là mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận công bằng với các nguồn lực phát triển và được thụ hưởng thành quả của quá trình đổi mới và phát triển đất nước; tiếp tục quan tâm tạo điều kiện để người dân tiếp cận tốt hơn các dịch vụ cơ bản của đời sống xã hội, giảm thiểu sự bất bình đẳng trong tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm, văn hóa, nhất là hạ tầng số. Đây là những yếu tố quyết định năng lực phát triển của mỗi cá nhân cũng như khả năng tham gia vào nền kinh tế hiện đại.

Đặc biệt, cần ưu tiên đầu tư cho vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và các địa bàn còn nhiều khó khăn nhằm thu hẹp khoảng cách giữa các vùng miền.
Thu hẹp khoảng cách phát triển không chỉ là nhiệm vụ kinh tế mà còn là nhiệm vụ xã hội. Khi mọi người dân đều có cơ hội phát triển, được tiếp cận các dịch vụ cơ bản tốt và có khả năng tham gia bình đẳng vào đời sống kinh tế, văn hóa và xã hội thì đó chính là nền tảng của một xã hội hài hòa, nhân văn và phát triển bao trùm, không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển.
Đề cập tác động của chuyển đổi số đối với đời sống xã hội, Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đức Chiện cho rằng trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số đang tạo ra những thay đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Công nghệ số không chỉ làm thay đổi cách con người làm việc, học tập và giao tiếp mà còn tác động trực tiếp đến các mối quan hệ xã hội, niềm tin và hành vi của mỗi người dân, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội.
Quá trình chuyển đổi số đang mang lại nhiều tác động tích cực khi mở rộng khả năng kết nối, không gian giao tiếp giữa con người với con người, giữa người dân với chính quyền và giữa các tổ chức trong xã hội.
Các nền tảng số giúp người dân tiếp cận thông tin nhanh hơn, sử dụng dịch vụ công thuận tiện hơn và tham gia nhiều hơn vào các hoạt động kinh tế, văn hóa và xã hội.
Công nghệ cũng tạo điều kiện hình thành các cộng đồng trực tuyến, hỗ trợ chia sẻ tri thức, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, gia tăng sự tương tác và tăng cường tính gắn kết xã hội.
Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra không ít thách thức đối với mỗi người dân và cộng đồng. Nguy cơ gia tăng khoảng cách số giữa các nhóm dân cư, nhất là đối với những nhóm yếu thế về khả năng tiếp cận công nghệ và kỹ năng số.
Nếu việc tiếp cận số không được bảo đảm trong quá trình phát triển, khoảng cách số có thể chuyển thành khoảng cách về cơ hội phát triển giữa các nhóm dân cư. Khi đó, những nhóm xã hội yếu thế như người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số và người cao tuổi có thể phải đối diện thêm nhiều thách thức mới trong cuộc sống.

Bên cạnh đó, môi trường số và mạng xã hội trực tuyến cũng đang tác động tiêu cực khi làm gia tăng nguy cơ lan truyền thông tin sai lệch, lừa đảo trực tuyến, xâm phạm dữ liệu cá nhân và các hành vi ứng xử thiếu chuẩn mực. Những hiện tượng này có thể làm suy giảm niềm tin xã hội, gia tăng tâm lý hoài nghi và ảnh hưởng đến chất lượng các mối quan hệ giữa con người với nhau.
Đặc biệt, việc quá phụ thuộc vào thiết bị số cũng có thể làm giảm sự giao tiếp trực tiếp giữa các thành viên trong gia đình và cộng đồng, từ đó ảnh hưởng đến sự gắn kết trong gia đình và xã hội.
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đức Chiện nhấn mạnh để chuyển đổi số thực sự phục vụ con người, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp: phát triển hạ tầng số và bảo đảm mọi người dân đều có cơ hội tiếp cận công nghệ với chi phí hợp lý; nâng cao kỹ năng số, kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch và văn hóa ứng xử trên không gian mạng cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế như thanh thiếu niên, người cao tuổi và người nghèo; tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và trách nhiệm của các nền tảng số trong kiểm soát nội dung độc hại; tăng cường giáo dục đạo đức số, xây dựng văn hóa số và phát huy trách nhiệm xã hội của mỗi công dân trên môi trường mạng.
Quan trọng hơn, chuyển đổi số phải được đặt trong quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm. Công nghệ cần phục vụ nâng cao chất lượng cuộc sống, mở rộng cơ hội phát triển và tăng cường sự gắn kết xã hội, chứ không chỉ nhằm mục tiêu tăng năng suất hay hiệu quả kinh tế.
Khi chuyển đổi số gắn với các giá trị nhân văn, bảo đảm công bằng trong tiếp cận và củng cố niềm tin xã hội thì đó sẽ là nền tảng quan trọng để xây dựng một xã hội an toàn, văn minh và phát triển bền vững./.
