Hội nghị Trung ương 2: Động lực bứt phá cho mục tiêu tăng trưởng "hai con số"
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Toàn, Viện trưởng Viện Kinh tế Chính trị học trả lời phỏng vấn phóng viên TTXVN, làm rõ hơn về ý nghĩa, giải pháp chiến lược từ các quyết sách của Hội nghị TW 2.
Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã đưa ra nhiều quyết sách quan trọng liên quan đến mục tiêu tăng trưởng 2 con số và công tác xây dựng Đảng.
Nhân dịp này, phóng viên Thông tấn xã Việt Nam đã phỏng vấn Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Toàn, Viện trưởng Viện Kinh tế Chính trị học (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) để làm rõ hơn về ý nghĩa, động lực và những giải pháp chiến lược từ các quyết sách của Hội nghị.
- Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh "Bốn nguyên tắc" cốt lõi về tăng trưởng kinh tế, trong đó đề cao tăng trưởng thực chất, hàm lượng tri thức cao và tuyệt đối không đánh đổi chất lượng lấy tốc độ. Dưới góc độ kinh tế chính trị học, Phó Giáo sư phân tích sâu hơn về những nguyên tắc này và những động lực then chốt nào giúp chúng ta duy trì được mức tăng trưởng cao, bền vững mà vẫn bảo đảm ổn định vĩ mô và công bằng xã hội?
Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Ngọc Toàn: Quan điểm của Đảng ta tại Đại hội XIV và Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV cho thấy quyết tâm chính trị đối với mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số.”
Trước đây, đã có lúc chúng ta đặt ra các mục tiêu tăng GDP nhưng chưa thực sự quyết tâm, quyết liệt để đạt mục tiêu. Lần này, Đảng ta xác định kiên trì mục tiêu tăng trưởng “hai con số” và phải thực hiện bằng được mục tiêu này, ngay cả trong điều kiện kinh tế thế giới có nhiều bất ổn.
Yêu cầu đặt ra không chỉ đạt mục tiêu mà phải đạt được mục tiêu tăng trưởng một cách thực chất, bền vững, hiệu quả và nhân dân phải được thụ hưởng thành quả của tăng trưởng. Đó chính là nội dung chính của “bốn nguyên tắc” mà Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh.
Thứ nhất, tăng trưởng phải thực chất, dựa trên gia tăng năng suất, chất lượng, sức cạnh tranh và giá trị gia tăng của nền kinh tế. Muốn vậy, tăng trưởng kinh tế phải xuất phát sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất trên nền tảng phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đó không phải là kiểu tăng trưởng bằng mọi giá, tăng trưởng ngắn hạn nhưng phải trả giá trong dài hạn, tăng trưởng bằng con số thành tích không gắn với chất lượng, hiệu quả thực. Chúng ta hướng tới mục tiêu phát triển dài hạn, chứ không chỉ tăng trưởng trong một năm hay 5 năm nhưng để tăng trưởng dài hạn thì phải quyết tâm thực hiện ngay từ năm đầu tiên.

Thứ hai, muốn tăng trưởng bền vững thì phải giữ được ổn định kinh tế vĩ mô, trước hết là kiểm soát lạm phát, tỷ giá và an toàn của hệ thống tài chính. Nguyên tắc này cũng có quan hệ với nguyên tắc thứ nhất. Đó là nếu lạm dụng các biện pháp kích thích tài khóa, tiền tệ ngắn hạn để tăng trưởng nhanh thì tăng trưởng không bền vững, không thực chất, rất khó đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô.
Tuy nhiên, ổn định kinh tế vi mô cũng cần khắc phục tâm lý thận trọng quá mức dẫn đến bó hẹp dư địa chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô để hỗ trợ tăng trưởng. Như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ rõ: “Việc điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác phải theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ, vừa hỗ trợ tăng trưởng hợp lý, vừa củng cố niềm tin thị trường, ổn định kỳ vọng và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.”
Thứ ba, để tăng trưởng nhanh phải tận dụng tốt mọi nguồn lực sẵn có của các thành phần kinh tế. Điều đó có nghĩa là phải tìm mọi cách huy động các nguồn lực để đầu tư cho nền kinh tế và phân bổ, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực này.
Thực tế, Việt Nam còn nhiều tiềm năng, nhiều nguồn lực mà chúng ta chưa huy động và sử dụng hiệu quả. Đó chính là một kiểu lãng phí nguồn lực. Điểm đáng chú ý ở nguyên tắc này là coi trọng hiệu quả lan tỏa của đầu tư, phải lựa chọn ưu tiên các dự án đầu tư có tác động chiến lược đối với toàn bộ nền kinh tế.
Như thế, hiệu quả đầu tư được nhân lên gấp nhiều lần, tạo ra những cơ hội, không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Điều này không chỉ đúng với đầu tư công, mà còn đúng với khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân và khu vực có vốn nước ngoài.
Nguyên tắc thứ tư thể hiện rõ nét bản chất xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là tăng trưởng kinh tế phải hướng tới phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Tăng trưởng phải đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội, không để ai bị bỏ lại phía sau. Mọi người dân đều được thụ hưởng các thành quả của tăng trưởng. Điều này cũng là cơ sở cho đoàn kết dân tộc, ổn định xã hội và tăng trưởng bền vững.
Muốn tăng trưởng nhanh, bền vững, bao trùm, như đã phân tích, động lực then chốt là phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong mô hình tăng trưởng mới. Tất nhiên, các động lực khác cũng rất quan trọng.
- Nhằm tạo "động lực của động lực" cho phát triển kinh tế, Hội nghị đã đặt trọng tâm vào việc phát huy mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, coi đây là một cuộc cải cách thực sự về quản trị từ hành chính quản lý sang hành chính kiến tạo. Theo ông, việc phân cấp, phân quyền mạnh mẽ theo nguyên tắc "cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi" đi liền với phân bổ nguồn lực sẽ giúp giải phóng sức sản xuất và tháo gỡ những "điểm nghẽn" tại cơ sở như thế nào để đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng của quốc gia?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Toàn: Tôi hoàn toàn nhất trí với chủ trương của Đảng tại Hội nghị Trung ương 2 lần này. Rõ ràng, nếu chỉ đơn thuần bỏ một cấp trung gian mà không thay đổi cách thức, mô hình quản lý, không phát huy được sự chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm của cán bộ và bộ máy thì hiệu quả thu được sẽ rất hạn chế.
Do đó, việc sắp xếp lại mô hình chính quyền địa phương phải gắn với tái cấu trúc mô hình, cơ chế vận hành, quản trị quốc gia và quản trị địa phương gắn với phân cấp, phân quyền dựa trên nền tảng chuyển đổi số mạnh mẽ nhằm xây dựng chính quyền phục vụ, kiến tạo sự phát triển.

Việc phân cấp, phân quyền mạnh mẽ theo nguyên tắc "cấp tỉnh mạnh về chiến lược, cấp xã mạnh về thực thi" đi liền với phân bổ nguồn lực sẽ khai thông, phát huy được tiềm năng, lợi thế và các nguồn lực phát triển của các địa phương, đặc biệt đặt trong bối cảnh các tỉnh mới với không gian phát triển được mở rộng.
Trước kia, ở nhiều địa phương, cấp tỉnh yếu về chiến lược, thụ động vào chỉ đạo của Trung ương, cuốn vào các vấn đề sự vụ, ngắn hạn. Trong khi đó, cấp cơ sở lại yếu về khả năng thực thi. Với chủ trương phân cấp, phân quyền mạnh mẽ, đi kèm với phân bổ nguồn lực, cấp tỉnh cần tích cực, chủ động, sáng tạo, tập trung vào chiến lược, kiến tạo, định hướng phát triển để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế, xây dựng và thúc đẩy các lợi thế cạnh tranh địa phương.
Trong khi đó, cấp xã mới phải thực sự mạnh về thực thi để chuyển hoá các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, của cấp tỉnh, để chủ trương, chính sách đúng đắn thực sự đến được với người dân, doanh nghiệp, tạo hiệu quả thực tế đóng góp vào tăng trưởng. Điều cần làm ngay là tháo gỡ những vướng mắc trong quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, hoàn thiện thể chế pháp luật, đồng thời mạnh mẽ thúc đẩy chuyển đổi số, đảm bảo hệ thống vận hành trơn tru, hiệu quả.
- Một điểm nhấn mang tính đột phá của Hội nghị là ban hành Nghị quyết nhấn mạnh việc phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực phải gắn kết chặt chẽ với thúc đẩy kinh tế, phục vụ trực tiếp mục tiêu tăng trưởng "hai con số." Đặc biệt, Trung ương yêu cầu phải thiết lập cơ chế bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, phân định rõ ranh giới giữa sai phạm vụ lợi và sai sót trong quá trình đổi mới. Ông đánh giá như thế nào về tác động của quyết sách này trong việc xóa bỏ tâm lý e dè, tạo ra "cú hích" để đội ngũ cán bộ dám bứt phá, giải quyết dứt điểm tình trạng "luật đúng nhưng làm khó" đang gây lãng phí nguồn lực?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Toàn: Vấn đề đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đã được Đảng đẩy mạnh trong các nhiệm kỳ gần đây và đã thu được những kết quả tích cực, được nhân dân cả nước đồng tình, đánh giá cao.
Lần này, Trung ương đã đánh giá, nhận định sớm nguy cơ tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng nhanh, nhiều dự án quy mô lớn được triển khai, nhiều thủ tục được thực hiện nhanh chóng, thậm chí rút gọn và do đó, xác định yêu cầu gắn công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực với quá trình thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số.
Bên cạnh đó, Trung ương cũng nhận định để tăng trưởng hai con số, cần phát huy tối đa tinh thần đổi mới, năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm của đội ngũ cán bộ. Đây là bài toán khó, nhưng bắt buộc phải giải để giải quyết tình trạng né tránh, đùn đẩy, chậm trễ trong tổ chức thực hiện hoặc thực hiện cho có, thực hiện đúng quy trình, thủ tục nhưng không hiệu quả. Muốn vậy, cần có cơ chế đánh giá đúng hiệu quả công việc và động cơ của cán bộ, công chức để bảo vệ cán bộ có động cơ đúng đắn, vì lợi ích chung, gắn việc đánh giá bổ nhiệm, khen thưởng với các tiêu chí về sự năng động, sáng tạo của cán bộ, công chức.
- Hội nghị lần này đã ban hành Quy định về công tác chính trị, tư tưởng nhằm cụ thể hóa "Bốn kiên định", trong đó nhấn mạnh chủ trương chuyển từ tư duy quản lý sang quản trị, chuyển từ trạng thái "quản lý, giáo dục" sang "khơi thông, truyền cảm hứng" để khắc phục tình trạng nói không đi đôi với làm. Theo Phó Giáo sư, vai trò "đi trước, mở đường" của công tác tư tưởng này sẽ góp phần xây dựng sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức mạnh kinh tế, tạo thành một chỉnh thể liên hoàn để đất nước tự chủ chiến lược và vững bước tiến vào kỷ nguyên mới ra sao?
Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Toàn: Theo tôi, Quy định này không chỉ cụ thể hóa “Bốn kiên định” mà còn gắn với những yêu cầu thực hiện “bốn kiên định” này trong kỷ nguyên mới, với tư duy, quyết sách phát triển mới của Đảng ta. Kiên định phải gắn với hành động cụ thể, hướng tới hoàn thành xuất sắc chức năng, nhiệm vụ, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Quy định mới hướng tới nâng cao nhận thức, tạo sự đoàn kết, đồng thuận trong toàn xã hội và củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng và tư duy, quyết sách phát triển và cách tiếp cận mới của Đảng trong kỷ nguyên mới. Đó là tiếp cận hành động, bám sát thực tiễn, đòi hỏi hiệu quả thực chất. Không dừng ở hiểu mà phải biến nhận thức thống nhất thành hành động thống nhất, tạo sức mạnh tổng hợp để chiến thắng sức ỳ, tạo xung lực phát triển mới.
Quy định mới cũng hướng tới thúc đẩy sự chuyển đổi mô hình từ quản lý sang quản trị, kiến tạo, phát triển, truyền cảm hứng, tạo động lực cho cán bộ, công chức phát huy sự chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám bứt phá vì lợi ích chung, khơi dậy khát vọng cống hiến phát triển đất nước, biến đổi mới, sáng tạo, phát triển trở thành động lực tự thân của mỗi cán bộ, công chức.
Như vậy, nếu tổ chức thực hiện nghiêm túc, hiệu quả thì công tác chính trị, tư tưởng sẽ khơi dậy sức mạnh toàn dân tộc, đoàn kết, thống nhất, vững vàng, tự chủ, tự tin với khát vọng và hành động đưa đất nước phát triển phồn vinh trong kỷ nguyên mới.
- Trân trọng cảm ơn Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Ngọc Toàn!
