Hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa đúng đối tượng, gắn với an sinh
Đại biểu Quốc hội góp ý hoàn thiện dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, đề xuất hỗ trợ đúng đối tượng, gắn với an sinh và ưu tiên vùng khó khăn.
Tinh thần chung là chính sách hỗ trợ là trọng tâm, gắn kết chặt chẽ với các mục tiêu an sinh xã hội và ưu tiên những vùng kinh tế còn nhiều khó khăn.
Tại phiên thảo luận ở Hội trường ngày 29/10, các đại biểu Quốc hội đã đóng góp những ý kiến nhằm hoàn thiện dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhìn chung, các đại biểu nhất trí cao với việc cần thiết phải ban hành luật, qua đó tiếp tục thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân. Mục tiêu là các cơ chế, chính sách phải thực sự thiết thực, khả thi, tạo bệ phóng để cộng đồng doanh nghiệp nâng cao năng lực, phát triển cả về quy mô lẫn chất lượng.
Định hướng cho công tác hoàn thiện dự án Luật, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Hồng nhấn mạnh yêu cầu tổng hợp đầy đủ, khách quan ý kiến của các đại biểu tại Tổ và hội trường. Trên cơ sở đó, các cơ quan soạn thảo, thẩm tra và những đơn vị liên quan cần khẩn trương rà soát, tiếp thu và giải trình kỹ lưỡng, đặc biệt là đối với những nội dung còn nhiều ý kiến khác nhau, nhằm bảo đảm hồ sơ dự án Luật đạt chất lượng cao nhất trước khi trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét và Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2.
Định vị đúng đối tượng thụ hưởng
Tinh thần chung là chính sách hỗ trợ là trọng tâm, gắn kết chặt chẽ với các mục tiêu an sinh xã hội và ưu tiên những vùng kinh tế còn nhiều gian khó. Theo đó, dự thảo Luật lần này đã bổ quy định các cơ chế hỗ trợ đặc thù dành cho doanh nghiệp do phụ nữ, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số làm chủ; Doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động từ các nhóm này; Doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn miền núi, biên giới, hải đảo. Dưới góc nhìn pháp lý và thực tiễn, đây là bước tiến quan trọng, thể hiện sự bao trùm của chính sách đối với những nhóm chủ thể thường phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình khởi nghiệp và vận hành.
Đại biểu Nguyễn Thanh Cầm (Đoàn Đồng Tháp) thẳng thắn chỉ ra những điểm cần tinh chỉnh để chính sách không rơi vào tình trạng "một chiếc áo mặc chun." Đại biểu nhận định dù dự thảo đã đưa doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ và doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ vào nhóm đặc thù, nhưng bản chất đây là hai nhóm có đặc điểm sinh thái và nhu cầu hỗ trợ hoàn toàn khác biệt. Nếu như doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ cần nâng tầm năng lực quản trị, mở rộng cánh cửa tiếp cận vốn, công nghệ và mạng lưới kinh doanh, thì doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ lại trăn trở với bài toán tuyển dụng, đào tạo, duy trì việc làm và gánh vác các chi phí phát sinh liên quan đến đặc thù về giới.
Việc gộp chung 6 nhóm đối tượng vào cùng một khung chính sách dẫn đến nguy cơ dàn trải, khó trúng đích cũng như nguyên tắc hỗ trợ có trọng tâm và khả năng cân đối nguồn lực của Nhà nước. Để giải quyết nút thắt này, đại biểu đề nghị luật hóa khung tiêu chí định lượng cơ bản, giao Chính phủ quy định chi tiết và đặc biệt cần có nguyên tắc xử lý minh bạch trong trường hợp một doanh nghiệp đồng thời hội tụ nhiều yếu tố ưu tiên.
Có cùng quan điểm, đại biểu Vương Thị Hương (Đoàn Tuyên Quang) cũng ghi nhận nỗ lực của Cơ quan soạn thảo khi đã tiếp thu, đưa doanh nghiệp do người dân tộc thiểu số làm chủ và sử dụng nhiều lao động dân tộc thiểu số vào diện ưu tiên.
Dù vậy, để luật đi vào cuộc sống một cách toàn diện, đại biểu kiến nghị Chính phủ cần rà soát kỹ lưỡng trong dự thảo Nghị định hướng dẫn. Điểm mấu chốt là phải phân định rạch ròi giữa tiêu chí về "chủ thể" và "địa bàn." Một doanh nghiệp do người dân tộc thiểu số làm chủ hoàn toàn có thể lập nghiệp tại các đô thị lớn, không nhất thiết phải đặt trụ sở tại khu vực miền núi. Việc đồng nhất hai tiêu chí này có thể vô tình tạo ra rào cản, bỏ sót chính những đối tượng yếu thế mà dự thảo Luật đang nỗ lực bảo vệ.
Từ thực tiễn của địa phương, đại biểu Nguyễn Cao Sơn (Đoàn Phú Thọ) cho rằng cần bổ sung đối tượng doanh nghiệp hoạt động tại các xã, vùng An toàn khu đã được cấp có thẩm quyền công nhận. Đây là những địa bàn dẫu mang ý nghĩa lịch sử to lớn nhưng hạ tầng cơ sở và khả năng kết nối thị trường còn nhiều hạn chế. Đại biểu lưu ý cần tách bạch rõ tiêu chí công nhận An toàn khu với tiêu chí vùng khó khăn kinh tế-xã hội, đồng thời công khai danh mục đối chiếu địa danh, phạm vi được công nhận và đầu mối xác định đối tượng thụ hưởng (sau sắp xếp hành chính), giúp doanh nghiệp có căn cứ rõ ràng khi lập kế hoạch đầu tư, sản xuất và sử dụng lao động.

Thiết kế cơ chế cho vùng phên dậu
Bên cạnh việc định vị đúng đối tượng, phương thức đưa chính sách đến tay doanh nghiệp cũng là chủ đề được các đại biểu chú trọng. Đối với các vùng phên dậu của Tổ quốc, thiết kế cơ chế hỗ trợ không thể áp dụng theo tư duy cào bằng. Đại biểu Cil Bri (Đoàn Lâm Đồng) phản ánh thực trạng doanh nghiệp vùng cao, biên giới, hải đảo luôn yếu thế về nhân lực, khả năng lập hồ sơ, thiếu hụt nguồn lực vốn đối ứng và khó tiếp cận dịch vụ tư vấn. Do vậy, nếu quy định tỷ lệ vốn đối ứng ngang bằng với các doanh nghiệp ở vùng đồng bằng, chính sách sẽ có thể không đến được với những đối tượng cần hỗ trợ nhất. Đại biểu kiến nghị làm rõ nguyên tắc phân tầng hỗ trợ theo mức độ khó khăn ngay trong luật; Giao Chính phủ thiết kế tỷ lệ vốn đối ứng linh hoạt; Và, thiết kế cơ chế hướng dẫn, tiếp cận nhu cầu từ cấp xã lên cơ quan chuyên môn cấp tỉnh để dẫn dắt nguồn lực, kết hợp rà soát cơ chế ngân sách Trung ương hỗ trợ có mục tiêu cho các địa phương khó khăn.
Cụ thể hóa hơn về khu vực kinh tế vùng cao, đại biểu Trần Đức Thuận (Đoàn Nghệ An) đề nghị các chính sách phải bám sát khả năng hấp thụ của doanh nghiệp.
"Đối với địa bàn miền núi, cần quan tâm chuỗi liên kết từ vùng nguyên liệu đến chế biến, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm. Nếu chỉ hỗ trợ phần mềm, đào tạo hoặc quảng bá mà thiếu kết nối vận chuyển, thị trường và doanh nghiệp đầu chuỗi thì hiệu quả sẽ hạn chế," đại biểu nêu ra.
Theo đại biểu Trần Đức Thuận, cơ chế hỗ trợ phải gắn liền với giá trị sản xuất thực tế và việc làm tạo ra tại địa phương, tránh trường hợp doanh nghiệp chỉ đăng ký trụ sở để hưởng ưu đãi. Những địa bàn khó khăn nhất cần được hỗ trợ đủ để triển khai chính sách. Việc phát triển doanh nghiệp tại miền núi, biên giới, hải đảo còn góp phần tạo sinh kế, giữ chân lao động, ổn định dân cư, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đây là hiệu quả cần được tính đến khi lựa chọn và đánh giá chương trình

Một trong những nút thắt thủ tục được các đại biểu nhận diện nằm ở quy định về nguyên tắc ưu tiên tại dự thảo Luật. Theo đại biểu Nguyễn Thị Yến Nhi (Đoàn Vĩnh Long), quy định ưu tiên doanh nghiệp "nộp hồ sơ trước" (trên hệ thống mạng) có thể làm vô hiệu hóa toàn bộ ý nghĩa của chính sách hỗ trợ nhóm yếu thế. Những doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp của người khuyết tật, hay ở vùng sâu vùng xa vốn dĩ đã chịu thiệt thòi về hạ tầng công nghệ và nhân sự chuyên trách, chắc chắn sẽ chậm chân hơn trong cuộc đua nộp hồ sơ so với các doanh nghiệp thành thị. Từ phân tích này, đại biểu đề xuất phương án xét duyệt hồ sơ theo đợt công khai, trong đó ưu tiên trước hết cho các nhóm đối tượng đặc thù theo tiêu chí của chương trình và thời điểm nộp hồ sơ chỉ nên đóng vai trò là tiêu chí phụ khi các điều kiện đã tương đương.
Chia sẻ góc nhìn này, đại biểu Trần Đức Thuận khẳng định việc thay đổi quy trình xét duyệt sẽ là chìa khóa để xóa bỏ triệt để cơ chế "xin-cho." Thay vì chạy đua về mặt thời gian, các cơ quan quản lý cần căn cứ vào mục tiêu chương trình, mức độ đáp ứng nhu cầu và hiệu quả dự kiến mang lại để ra quyết định. Việc minh bạch hóa bộ tiêu chí, công khai kết quả và giải trình rõ lý do từ chối không chỉ củng cố niềm tin của cộng đồng kinh doanh mà còn trao cho doanh nghiệp sự chủ động tối đa trong việc hoạch định lộ trình phát triển./.
