Hát đối ở Quảng Ninh: Từ diễn xướng dân gian đến Di sản văn hóa phi vật thể
Quảng Ninh sở hữu đa dạng các loại hình di sản văn hóa phi vật thể, trong đó, hát đối vùng biển Quảng Ninh là diễn xướng dân gian đặc sắc đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia.
Hát đối đã xuất hiện từ lâu đời, được lưu truyền và phổ biến trên một vùng khá rộng dọc theo bờ biển Quảng Ninh, trong các làng Việt cổ ven biển, các làng đảo và làng chài trên vịnh Hạ Long.
Các câu hát đối được cất lên ở bất cứ nơi đâu, như trong lúc quai đê lấn biển, quăng chài phơi lưới, chèo thuyền đánh bắt cá tôm hay lúc thảnh thơi hội hè, đình đám, cưới hỏi. Hát đối cứ thế được dân gian sáng tác, làm phong phú, thực hành và trao truyền từ đời này qua đời khác.
Câu hát đối nảy ra từ mái chèo
Khi hai chiếc thuyền nan áp lại gần nhau, một bên cất lên tiếng "ơ hò" kéo dài, bên kia đáp lại bằng một câu hát khác. Không đàn, không nhạc đệm, chỉ có lời ca hòa với tiếng sóng rì rào. Đó là hát đối, loại hình sinh hoạt văn hóa dân gian của cư dân vùng biển Quảng Ninh.
Hát đối là hình thức đối đáp giữa nam và nữ, do cư dân vạn chài sáng tạo từ chính đời sống lao động và sinh hoạt. Câu hỏi hát đối ra đời từ bao giờ đến nay vẫn chưa có lời giải chắc chắn, chỉ biết rằng những câu hát này đã có từ rất lâu đời và được truyền lại qua nhiều thế hệ bằng con đường truyền miệng.
Tiếng hát gắn với những nơi con người sống nhờ biển. Hát đối được truyền dân gian dọc bờ biển Quảng Ninh, trong các làng Việt cổ ven biển, làng đảo và làng chài trên vịnh Hạ Long. Người ta hát khi đắp đê lấn biển, khi quăng chài phơi lưới, khi chèo thuyền ra khơi, và trong những dịp hội hè, đình đám, cưới hỏi. Lời hát giúp quên đi nhọc nhằn, cũng là cách để trai gái làng chài tìm hiểu, làm quen với nhau giữa những con thuyền thưa thớt trên biển.
Ở làng chài Cửa Vạn trên vịnh Hạ Long, người dân học hát từ ông bà, cha mẹ, qua hát ru và sinh hoạt hằng ngày. Có những gia đình mà cha mẹ, ông bà từng nên duyên nhờ những buổi hát đối đáp trên biển.
Những lớp lang của một cuộc hát
Điều làm nên nét riêng của hát đối nằm ở cấu trúc của cuộc hát. Với hình thức hát chèo đường, khi đang chèo thuyền di chuyển, ban đầu chỉ có hai thuyền, sau đó nhiều thuyền tụ lại thành hai nhóm nam và nữ để đối đáp. Cuộc hát thường qua bốn chặng.
Mở đầu là lời chào hỏi khiêm nhường. Tiếp đó là những câu dò hỏi hoàn cảnh để tìm người thực lòng muốn kết bạn. Đến chặng thử tài, hai bên đố nhau bằng những bài hát đố, hát giảng về thiên văn, địa lý, sách vở, điển tích. Khi đã thân thiết, đôi bên trao nhau khăn, nón làm kỷ vật, rồi kết thúc bằng phần hát chia tay.
Hát đúm, hay còn gọi là hát trai gái, cũng là hình thức đối đáp tình tứ giữa nam và nữ. Ngoài ra còn có hát đám cưới, được hát ngay trên thuyền trong ngày vui của đôi trẻ.
Lời ca chủ yếu theo thể lục bát, bắt nguồn từ lao động sản xuất và lời ăn tiếng nói thường ngày, rồi được người hát ứng tác cho phù hợp với từng hoàn cảnh. Nội dung xoay quanh tình yêu đôi lứa, quê hương, biển đảo, đời sống của người đi biển và những giá trị đạo lý.
Làn điệu mềm mại, chậm rãi, mang sắc thái mênh mang, trữ tình. Do vùng vịnh ít sóng lớn, tiếng hát ở đây không dữ dội như nhiều điệu hò ở các vùng biển khác.
Hát đối chủ yếu dùng giọng tự nhiên, không cần nhạc đệm cầu kỳ. Chính sự mộc mạc ấy, cộng với lối ứng đối thông minh, dí dỏm và giàu chất trữ tình, khiến người nghe dễ nhớ, dễ thuộc và dễ cảm.
Giá trị và vị thế
Hát đối được đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo quyết định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành ngày 3/6/2025 đánh dấu sự ghi nhận chính thức đối với loại hình này. Cùng đợt đó, Quảng Ninh có thêm ba di sản khác, gồm nghệ thuật may trang phục truyền thống của người Sán Chỉ, nghệ thuật may và trang trí trang phục của người Dao Thanh Phán, và lễ hội Cầu mùa của người Sán Chỉ.
Giá trị của hát đối không chỉ nằm ở nghệ thuật. Đó còn là kho tri thức dân gian, nơi chứa kinh nghiệm sống, phong tục, lễ hội và cách nhìn thế giới của cư dân sông nước. Trong từng câu hát là hình ảnh con thuyền, mái chèo, tấm lưới, là mối quan hệ giữa con người với biển. Với cộng đồng làng chài, đó cũng là nơi lưu giữ ký ức về một lối sống từng gắn liền với mặt nước.
Ngoài hát đối vùng biển, Quảng Ninh còn có những hình thức hát giao duyên khác ở miền núi, như hát Soóng cọ của người Sán Chỉ và hát Soọng cô của người Sán Dìu. Các loại hình này được công nhận là di sản quốc gia từ năm 2023, cho thấy tiếng hát giao duyên là một mạch văn hóa chung của nhiều cộng đồng trên mảnh đất Quảng Ninh.
Thăng trầm và những nỗ lực giữ gìn
Đứng trước nguy cơ mai một, những năm qua, ngành văn hóa, Hội Văn nghệ dân gian thành phố, các xã, phường, đặc khu ven biển Quảng Ninh cùng Ban Quản lý di sản thế giới vịnh Hạ Long - Yên Tử và các câu lạc bộ đã và đang triển khai nhiều giải pháp thiết thực để gìn giữ văn hóa hát đối.
Với những loại hình văn hóa hình thành từ đời sống cộng đồng, bảo tồn không chỉ là sưu tầm hay lưu giữ những bài hát cũ. Điều quan trọng hơn là duy trì đội ngũ thực hành và tạo không gian để di sản tiếp tục được sử dụng.
Thời gian qua, các địa phương ven biển, ngành văn hóa và các câu lạc bộ đã tổ chức nhiều hoạt động sưu tầm, phục dựng và truyền dạy hát đối, hát giao duyên.
Cùng với đó, có thể đưa hát đối vào các chương trình ngoại khóa, lớp truyền dạy hoặc hoạt động trải nghiệm dành cho học sinh, thanh thiếu niên tại những địa phương còn duy trì loại hình này.
Bên cạnh việc tiếp tục kiểm kê, nghiên cứu, có thể gắn hoạt động thực hành hát đối với du lịch biển, du lịch cộng đồng và các chương trình trải nghiệm văn hóa. Cần quan tâm đẩy mạnh ghi âm, ghi hình, số hóa tư liệu để lưu giữ và giới thiệu hát đối trên các nền tảng số.
Cùng với đó, cần có chế độ đãi ngộ cho nghệ nhân, quan tâm kinh phí để các câu lạc bộ hoạt động, giúp hát đối cổ vùng biển tiếp tục được bảo tồn và phát huy. Đồng thời, khuyến khích các câu lạc bộ tổ chức cho hội viên sưu tầm, ghi chép các bài hát đối cổ, số hóa toàn bộ hồ sơ, tài liệu liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể hát đối vùng biển.
Đứng giữa vịnh Hạ Long hôm nay, khi những chiếc thuyền nan chèo sát nhau và tiếng hát vang lên dìu dặt, hát đối được gìn giữ bởi những nghệ nhân cao tuổi ở làng chài Cửa Vạn và được truyền lại cho lớp trẻ. Giữ được tiếng hát ấy, có lẽ chính là đã giữ lại được một phần văn hóa đặc trưng của vùng biển tuyệt đẹp nơi đây./.
