Hàng dự trữ quốc gia được nhập, xuất linh hoạt hơn theo quy định mới
Nghị định 345/2026/NĐ-CP quy định cụ thể cơ chế nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia trong nhiều tình huống, cho phép xử lý nhanh khi thiên tai, dịch bệnh, cứu đói hoặc thị trường biến động bất thường.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định số 345/2026/NĐ-CP ngày 4/9/2026 quy định chi tiết một số điều, biện pháp thi hành Luật Dự trữ quốc gia về dự trữ quốc gia và quản lý, sử dụng hàng dự trữ quốc gia.
Nghị định quy định cụ thể quy trình nhập, xuất hàng dự trữ quốc gia, trong đó rút ngắn thời gian xử lý đối với các tình huống đột xuất, cấp bách.
Chủ động bổ sung hàng khi thị trường biến động
Nghị định số 345/2026/NĐ-CP gồm 3 chương, 34 điều, quy định về danh mục và kế hoạch hàng dự trữ quốc gia; nhập, xuất, bảo quản, sử dụng, mua bán hàng dự trữ quốc gia; nguồn hình thành và ngân sách nhà nước chi cho dự trữ quốc gia; chế độ, chính sách đối với người làm công tác dự trữ; kho dự trữ quốc gia; nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, hợp tác quốc tế và kiểm tra về dự trữ quốc gia.
Đối với hoạt động nhập hàng, Nghị định quy định các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia tổ chức mua hàng, nhập kho theo kế hoạch hàng dự trữ quốc gia đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt hằng năm.
Đáng chú ý, cơ chế nhập hàng được áp dụng khi giá cả thị trường hoặc nguồn hàng hóa tăng, giảm đột biến.
Theo đó, bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể đề nghị nhập hàng dự trữ quốc gia khi vật tư, thiết bị, hàng hóa thuộc Danh mục chi tiết hàng dự trữ quốc gia có biến động bất thường về giá hoặc nguồn cung. Cơ quan đề nghị phải chịu trách nhiệm về nội dung đề xuất.
Trong thời hạn tối đa 5 ngày kể từ khi nhận được đề nghị, Bộ Tài chính lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia và cơ quan liên quan. Các cơ quan được lấy ý kiến phải trả lời trong thời hạn 3 ngày.
Sau khi nhận đầy đủ ý kiến, trong thời hạn tối đa 5 ngày, Bộ Tài chính tổng hợp và trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt dự toán theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước.
Trong thời hạn tối đa 5 ngày kể từ khi nhận được quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành kế hoạch nhập bổ sung để các bộ, cơ quan ngang bộ tổ chức thực hiện.
Nghị định cũng quy định việc nhập hàng dự trữ quốc gia từ nguồn đóng góp tự nguyện của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân thực hiện theo quy định riêng.
Xuất cấp nhanh trong tình huống đột xuất, cấp bách
Một nội dung đáng chú ý khác là quy định về xuất cấp hàng dự trữ quốc gia trong tình huống đột xuất, cấp bách.
Khi xảy ra thiên tai, thảm họa, hỏa hoạn, dịch bệnh, cứu đói vượt khả năng, điều kiện của chính quyền địa phương hoặc phát sinh yêu cầu cần giải quyết ngay liên quan đến nhiệm vụ chính trị, quốc phòng, an ninh, đối ngoại, trật tự an toàn xã hội, bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực và Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh có thể đề nghị xuất cấp hàng dự trữ quốc gia.
Trong thời hạn tối đa 3 ngày kể từ khi nhận được đề nghị, Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia phải ban hành quyết định xuất cấp, giao nhiệm vụ cho các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện, đồng thời gửi Bộ Tài chính để quản lý, theo dõi.
Đặc biệt, trong trường hợp tình huống đột xuất, cấp bách đòi hỏi xử lý ngay mà chưa kịp ban hành quyết định xuất cấp, việc chỉ đạo có thể được thực hiện thông qua điện thoại trực tiếp, bản fax hoặc văn bản điện tử để bảo đảm hàng dự trữ được đưa đến nơi cần thiết kịp thời.
Các đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp quản lý, bảo quản hàng dự trữ quốc gia được chủ động huy động hoặc thuê ngay phương tiện vận chuyển, giao hàng đến đúng địa điểm theo yêu cầu của cấp có thẩm quyền.

Sau khi xuất cấp, trong thời hạn 5 ngày, đơn vị, tổ chức, doanh nghiệp bảo quản hàng dự trữ quốc gia phải hoàn thiện đầy đủ hồ sơ theo quy định.
Quy định này tạo cơ chế xử lý linh hoạt trong những tình huống mà yếu tố thời gian có ý nghĩa quyết định, nhất là thiên tai, thảm họa, dịch bệnh hoặc cứu đói.
Xuất hàng khi thị trường biến động bất thường
Tương tự cơ chế nhập bổ sung, Nghị định cũng cho phép xuất hàng dự trữ quốc gia khi giá cả thị trường hoặc nguồn hàng hóa thuộc danh mục dự trữ quốc gia tăng, giảm đột biến.
Bộ, cơ quan ngang bộ quản lý ngành, lĩnh vực và UBND cấp tỉnh có trách nhiệm gửi đề nghị xuất hàng tới Bộ Tài chính và chịu trách nhiệm về nội dung đề nghị.
Trong thời hạn tối đa 5 ngày kể từ khi nhận được đề nghị, Bộ Tài chính lấy ý kiến các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia và cơ quan liên quan. Cơ quan được lấy ý kiến phải trả lời trong vòng 3 ngày.
Sau khi nhận đầy đủ ý kiến, Bộ Tài chính có tối đa 5 ngày để tổng hợp và ban hành quyết định xuất hàng dự trữ quốc gia.
Các bộ, cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia tổ chức thực hiện và báo cáo kết quả về Bộ Tài chính trong thời hạn tối đa 3 ngày kể từ khi hoàn thành nhiệm vụ.
Nghị định đồng thời yêu cầu sau khi xuất bán hoặc xuất cấp, cơ quan quản lý phải xây dựng kế hoạch nhập bổ sung hàng dự trữ quốc gia, bảo đảm duy trì nguồn lực dự trữ theo yêu cầu.
Đối với xuất hàng theo kế hoạch, Bộ trưởng hoặc Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia tổ chức thực hiện theo kế hoạch đã được phê duyệt hằng năm.
Quy định rõ việc tạm xuất, thu hồi hàng
Nghị định cũng quy định cụ thể việc tạm xuất và thu hồi hàng dự trữ quốc gia.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia quyết định tạm xuất hàng để thực hiện mục tiêu dự trữ quốc gia theo quy định của Luật Dự trữ quốc gia.

Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày hoàn thành nhiệm vụ, nếu hàng tạm xuất vẫn đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng và quy định về bảo quản, cơ quan có thẩm quyền quyết định thu hồi và nhập lại kho dự trữ quốc gia.
Trường hợp hàng đã tạm xuất nhưng không còn đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, quy định về bảo quản sau khi hoàn thành nhiệm vụ, cơ quan quản lý quyết định xuất cấp hoặc xuất bán theo quy định. Trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ khi ban hành quyết định, cơ quan quản lý phải gửi Bộ Tài chính để theo dõi.
Chỉ tiêu hủy khi thuộc trường hợp quy định
Nghị định cũng đặt ra các trường hợp được xuất tiêu hủy hàng dự trữ quốc gia. Trong đó, hàng có thể được tiêu hủy khi bị hư hỏng, không sử dụng được do nguyên nhân khách quan; thuộc danh mục hàng hóa không được phép sử dụng trên thị trường theo quyết định của cấp có thẩm quyền; không sử dụng được do thay đổi về công nghệ; hoặc đã hết hạn sử dụng mà không thể xuất bán, xuất cấp trong quá trình luân phiên, đổi hoặc hoán đổi hàng.
Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ quản lý hàng dự trữ quốc gia quyết định việc xuất tiêu hủy, đồng thời chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Việc tiêu hủy phải tuân thủ quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định pháp luật liên quan.
Kinh phí tiêu hủy hàng dự trữ quốc gia do ngân sách nhà nước bảo đảm. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ khi hoàn thành tiêu hủy, cơ quan quản lý phải báo cáo kết quả về Bộ Tài chính.
Với việc quy định cụ thể từng trường hợp, thẩm quyền và thời hạn xử lý, Nghị định 345/2026/NĐ-CP tạo khuôn khổ thống nhất cho việc bổ sung, xuất cấp và quản lý hàng dự trữ quốc gia, đồng thời tăng tính chủ động trong ứng phó với những tình huống phát sinh và biến động bất thường của thị trường.
Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 4/9/2026. Riêng các nội dung về dự trữ chiến lược có hiệu lực từ ngày 1/1/2027.
