Hà Nội: Ùn tắc giao thông trở thành rào cản trực tiếp đến phát triển kinh tế, xã hội

Ùn tắc giao thông không chỉ là vấn đề đi lại mà đã trở thành rào cản trực tiếp đối với phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô, ảnh hưởng đến môi trường sống và sức hấp dẫn đầu tư của thành phố.

Với việc xe cá nhân tăng chóng mặt, chưa kể lượng lớn xe từ các tỉnh lân cận, thành phố Hà Nội đang đối mặt với bài toán ùn tắc giao thông đô thị và đã trở thành rào cản trực tiếp đối với phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô.

Do đó, Sở Xây dựng Hà Nội vừa đưa ra nhiều giải pháp đột phá, then chốt và lộ trình nhằm giảm ùn tắc trước mắt, giảm phát thải, cải thiện chất lượng không khí và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Rào cản trực tiếp phát triển kinh tế-xã hội Thủ đô

Theo báo cáo của Sở Xây dựng Hà Nội, thành phố có dân số 8,7 triệu người, đứng thứ hai cả nước, với tốc độ tăng dân số cơ học rất cao là 1,96%/năm. Tuy nhiên, hạ tầng giao thông không theo kịp, gây ùn tắc giao thông.

Cụ thể, tỷ lệ đường liên khu vực mới đạt 43,51% so với quy hoạch. Quỹ đất dành cho giao thông chỉ tăng trung bình 0,3-0,35%/năm, trong khi phương tiện cá nhân tăng trưởng 4-5%/năm (riêng ôtô tăng trên 11%/năm). Quy mô phương tiện hiện tại đã vượt quá 9,2 triệu chiếc, trong đó xe máy chiếm lĩnh với 72,3% thị phần.

Ngoài ra, thống kê cho thấy, có 27% tổng số chuyến đi trong ngày tập trung vào hai khung giờ cao điểm (7h30-8h30 và 17h30-18h30), tạo áp lực cực lớn tại các nút giao cửa ngõ. Sau đại dịch COVID-19, người dân ngại sử dụng phương tiện công cộng, quay lại sử dụng xe máy cá nhân.

“Ùn tắc giao thông đẩy chi phí logistics lên tới 16,8% GDP, kìm hãm năng suất lao động và sức cạnh tranh của Thủ đô,” ông Đào Việt Long, Phó Giám đốc Sở Xây dựng Hà Nội đánh giá.

Tiết lộ con số Hà Nội không chỉ gánh tải cho nội đô mà còn phải hấp thụ 1,45 triệu chuyến đi/ngày từ các tỉnh lân cận, phía Sở Xây dựng thông tin, có 22% các chuyến đi có cự ly từ 50-80km tập trung vào các tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên, Vĩnh Phúc. Với hạ tầng liên vùng chỉ đạt chưa đầy 50% quy hoạch, các dòng xe này trực tiếp gây tê liệt các trục vành đai vào giờ cao điểm.

“Ùn tắc giao thông không chỉ là vấn đề đi lại mà đã trở thành rào cản trực tiếp đối với phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô, làm gia tăng chi phí logistics, giảm năng suất lao động, ảnh hưởng đến môi trường sống và sức hấp dẫn đầu tư của thành phố,” ông Long thừa nhận.

Ùn tắc giao thông không chỉ là vấn đề đi lại mà đã trở thành rào cản trực tiếp đối với phát triển kinh tế-xã hội của Thủ đô. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Đề cập đến thực trạng các loại hình vận tải, theo đánh giá của phía Sở Xây dựng, tính đúng giờ của xe buýt tương đối thấp, chưa tạo được niềm tin. Đơn cử, cùng một quãng đường, xe máy mất 20 phút nhưng xe buýt mất đến 43 phút, chênh lệch gấp đôi khiến người dân không mặn mà đánh đổi.

Đặc biệt, 70,6% các chuyến đi nội vùng có cự ly dưới 6km, trong đó 40% là dưới 3km. Đây là cự ly lý tưởng cho đi bộ, xe đạp hoặc xe buýt, nhưng người dân vẫn kiên quyết chọn xe máy vì mức độ thuận tiện của phương tiện này. Trong khi đó, 40% người đi xe buýt phải đi bộ trên 500m để đến điểm dừng, thiếu khả năng kết nối, chưa thuận tiện.

Về vận tải theo tuyến cố định, nhu cầu vận tải liên tỉnh có xu hướng giảm do sự cạnh tranh từ các loại hình vận tải mới như xe limousine. Các tuyến ngắn đang rất yếu, nhiều xe kết hợp chở hàng để bù đắp chi phí hoạt động. Chỉ các tuyến dài và doanh nghiệp lớn còn duy trì hoạt động ổn định.

Trong giai đoạn cấm xe tải hiện nay, đường sá thông thoáng hơn nhưng vẫn cần có giải pháp liên mạch, toàn diện. Tuy nhiên, có đến 70% xe container chạy rỗng chiều về, gây lãng phí hạ tầng. Hà Nội hiện thiếu các địa điểm kết nối giữa vận tải đường dài và vận tải đường ngắn dẫn đến việc xe tải lớn phải đi sâu vào các cửa ngõ gây ùn tắc, dẫn đến xe sử dụng không hiệu quả, tỷ lệ xe chạy rỗng lớn, tăng chi phí logistics.

Giải quyết “điểm nghẽn” di chuyển nội đô

Trong bối cảnh quỹ đất dành cho giao thông gần như không thể mở rộng nhanh, công nghệ được xác định là “đòn bẩy” quan trọng và mang tính quyết định để tối ưu hóa nguồn lực hạ tầng hiện có, do đó, Sở Xây dựng đưa ra hàng loạt các giải pháp trước mắt và lâu dài.

Cụ thể, Hà Nội cần xây dựng hồ sơ dữ liệu giao thông hợp nhất để phá vỡ tình trạng “ốc đảo dữ liệu” giữa các sở, ban ngành; sử dụng đèn tín hiệu thông minh để điều tiết giao thông, giảm ùn tắc; thẻ vé điện tử liên thông; mô hình tích hợp dịch vụ giao thông cho phép người dân tiếp cận và sử dụng nhiều loại hình vận tải khác nhau: metro, xe buýt, taxi, Grab, xe đạp công cộng trên một nền tảng kỹ thuật số duy nhất, đánh dấu sự chuyển đổi từ sở hữu phương tiện sang sử dụng dịch vụ di chuyển theo nhu cầu.

Thành phố thiết lập vùng lõi hạn chế phương tiện cá nhân dựa trên mức phát thải hoặc thu phí ùn tắc. Các biện pháp kiểm soát phương tiện cá nhân được thực hiện theo lộ trình phù hợp không chỉ nhằm giảm ùn tắc, mà còn hướng tới mục tiêu cải thiện chất lượng không khí, giảm phát thải khí nhà kính và xây dựng môi trường sống bền vững cho người dân Thủ đô.

Hà Nội cần thiết lập vùng lõi hạn chế phương tiện cá nhân dựa trên mức phát thải hoặc thu phí ùn tắc. (Ảnh: Hoài Nam/Vietnam+)

Để giải quyết các “điểm nghẽn” trong di chuyển nội đô, Hà Nội thí điểm diện rộng xe đạp công cộng, xe máy điện thuê chung tại các khu vực mật độ cao và quanh nhà ga metro, bến xe buýt với mục tiêu là xử lý đoạn đường 500m-1km mà người dân ngại đi bộ; phát triển hệ thống xe buýt nhỏ gom khách và trung chuyển ra các trục vận tải khối lượng lớn như metro hoặc BRT; tổ chức làn đường ưu tiên cho xe buýt tại các tuyến đường trục hướng tâm, Vành đai 1, 2, 3 có từ 3 làn đường trở lên, để đảm bảo tốc độ cũng như thời gian chuyến đi của xe buýt, nâng cao chất lượng dịch vụ và thu hút hành khách nhờ tính đúng giờ.

Nhìn nhận việc thiếu một khung pháp lý chung đang là rào cản lớn, khiến các loại hình vận tải chưa thể liên kết thành một hệ sinh thái vận chuyển liền mạch, phía Sở Xây dựng Hà Nội kiến nghị xây dựng khung pháp lý về chia sẻ dữ liệu giao thông và quản lý hoạt động vận tải phù hợp với điều kiện hạ tầng của thành phố; tiếp tục hoàn thiện quy hoạch, ưu tiên hạ tầng cho giao thông xanh và mô hình trung chuyển; huy động các quỹ đầu tư để hỗ trợ chuyển đổi xanh.

“Một cơ chế mang tính đột phá là phát triển theo mô hình TOD - lấy giao thông công cộng làm trục phát triển đô thị, đồng thời dùng nguồn lực đô thị để tái đầu tư cho giao thông; áp dụng bắt buộc tiêu chuẩn đánh giá tác động giao thông đối với các dự án quy mô lớn,” ông Đào Việt Long, Phó Giám đốc Sở Xây dựng nói./.

(Vietnam+)