Gỡ khó cho mô hình trường bán trú kiểu mới tại Nghệ An
Với 126 phòng ký túc xá được đầu tư hiện đại, Trường Trung học phổ thông Kỳ Sơn đã trở thành hệ thống nhà bán trú khang trang nhất tỉnh Nghệ An, nhưng vẫn gặp khó khăn về pháp lý cần tháo gỡ.
Dù mang lại những hiệu quả đột phá trong việc nâng cao chất lượng giáo dục vùng cao và giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, mô hình trường Trung học phổ thông bán trú kiểu mới tại Nghệ An sau 3 năm thí điểm vẫn đang rơi vào tình cảnh "vận hành nội trú trên danh nghĩa bán trú." Xây dựng một cơ chế chính thức, đầu tư đồng bộ cơ sở vật chất là điều cấp thiết để bù đắp cho những tâm huyết của đội ngũ giáo viên vùng sâu, vùng xa.
Niềm tin của phụ huynh và học sinh bản địa
Trong ký ức của nhiều thế hệ giáo viên vùng cao Nghệ An, hình ảnh những học trò lớp 10, 11, 12 phải ở thuê những căn phòng trọ chật chội, ẩm thấp quanh cổng trường đã trở nên quá quen thuộc.
Nhưng kể từ đầu năm học 2022-2023, một cuộc "cách mạng" về không gian sống đã diễn ra tại Trường Trung học phổ thông Kỳ Sơn, xã Mường Xén. Với 126 phòng ký túc xá được đầu tư hiện đại, trang bị đầy đủ điều hòa, công trình vệ sinh khép kín, ngôi trường này đã trở thành hệ thống nhà bán trú khang trang nhất tỉnh Nghệ An.
Em Moong Thị Anh Thư, học sinh lớp 12C1, chia sẻ về sự đổi thay này: "So với cảnh ở trọ trước đây, ở bán trú tại trường thuận lợi hơn rất nhiều. Chúng em được hưởng chế độ hỗ trợ gạo, ăn trưa theo Nghị định 66/2025/NĐ-CP. Quan trọng nhất là môi trường an toàn, sạch sẽ, giúp em có thể tập trung hoàn toàn cho việc học."
Con số học sinh đăng ký ở bán trú tăng gấp 4 lần so với năm đầu tiên chính là minh chứng sống động nhất cho niềm tin của phụ huynh và học sinh bản địa. Không còn cảnh tan trường là "mạnh ai nấy chạy" về phòng trọ, giờ đây, hơn 90 giáo viên nhà trường cũng xem đây là mái nhà thứ hai, cùng ăn, cùng ở và cùng thức với học trò.

Thực tế tại Trường Trung học phổ thông Kỳ Sơn cho thấy một nghịch lý, dù danh nghĩa là trường bán trú, nhưng cách thức vận hành lại không khác gì một trường nội trú chuyên nghiệp. Thời gian này, mỗi tối 32 phòng học của trường vẫn sáng rực ánh đèn đến tận đêm khuya.
Thầy giáo Nguyễn Văn Đạt, một giáo viên chủ nhiệm có 28 học trò ở bán trú, tâm sự: "Những buổi tối trực không chỉ là quản lý đơn thuần. Chúng tôi trực tiếp kèm cặp, giảng lại những bài khó, chữa từng lỗi sai cho các em. Dù vất vả vì khối lượng công việc tăng vọt, nhưng thấy học trò chăm chỉ, đặt mục tiêu vào đại học, chúng tôi lại thấy ấm lòng."
Hiệu trưởng nhà trường, thầy Lê Văn Tảo cho biết ngoài giờ chính khóa buổi sáng, các em được học phụ đạo buổi chiều và tự học có hướng dẫn vào buổi tối. Nhà trường còn lồng ghép các chương trình kỹ năng sống, hoạt động ngoại khóa để bù đắp những thiếu hụt về vốn sống cho học sinh vùng sâu, vùng xa.
Chính sự nỗ lực "vượt định mức" này đã mang lại kết quả khá tự hào như chất lượng giáo dục chuyển biến rõ rệt, tỷ lệ học sinh bỏ học giảm sâu, và niềm tin vào con chữ của đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng được củng cố.
Thực tiễn đi trước cơ chế
Dù hiệu quả đã rõ rệt, nhưng mô hình này vẫn đang vận hành trong tình trạng "vừa chạy vừa xếp hàng" do thiếu khung pháp lý tương ứng. Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở chỗ: Theo các quy định hiện hành như Thông tư 05/VBNH-BGDĐT (năm 2015) về quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông dân tộc bán trú, mô hình trường phổ thông dân tộc bán trú hiện chỉ mới áp dụng cho bậc Tiểu học và Trung học cơ sở.
Trong khi đó, Trường Trung học phổ thông Kỳ Sơn lại là trường Trung học phổ thông dành cho học sinh cấp III nên khi áp dụng trong thực tiễn không có cơ sở để xây dựng và triển khai các chính sách đối với trường cũng như đối với giáo viên và học sinh.
Điều này dẫn đến những bất cập như về nhân sự, Trường Trung học phổ thông Kỳ Sơn có 44 lớp và đang thiếu tới 15 giáo viên so với định mức. Giáo viên phải tăng tiết, tăng ca để quản lý bán trú nhưng không được hưởng các chế độ ưu đãi như đồng nghiệp ở bậc Trung học cơ sở bán trú.

Về tài chính, do không được định danh là trường bán trú, ngân sách chi thường xuyên của trường vẫn cào bằng như các trung học phổ thông ở vùng đồng bằng. Trong khi đó, chi phí vận hành (như tiền điện thắp sáng lên tới 50-60 triệu đồng/tháng) đang trở thành gánh nặng quá tải đối với nhà trường.
Về chính sách, việc xây dựng mô hình chủ yếu dựa trên kinh nghiệm tự thân và học hỏi từ các trường Trung học phổ thông dân tộc nội trú tỉnh và các trường Trung học cơ sở dân tộc bán trú trên địa bàn, thay vì có một bộ quy chuẩn chính thức từ ngành giáo dục.
Thầy giáo Lê Văn Tảo kiến nghị: “Để thực hiện mô hình trường bán trú, ngay sau khi đi vào hoạt động, Trường Trung học phổ thông Kỳ Sơn cũng đã có đánh giá đầy đủ về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất, chiến lược phát triển, đặt mục tiêu cho từng giai đoạn. Đồng thời, nhà trường đưa ra một số kiến nghị, đề xuất để mô hình đi vào hiệu quả. Trong đó, có đề nghị Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu với Ủy ban Nhân dân tỉnh sớm có chủ trương về cơ chế chính sách nhân sự, hỗ trợ tài chính về điện, nước, chế độ dạy học 2 buổi/ngày, đầu tư trang thiết bị dạy học và bán trú.”
Ngoài Trường Trung học phổ thông Kỳ Sơn, việc triển khai và nhân rộng mô hình tại Trường Trung học phổ thông Quế Phong cũng đang gặp những khó khăn tương tự.
Trường Trung học phổ thông Quế Phong hiện đối mặt với tình trạng "quá tải" và "xuống cấp" nghiêm trọng sau gần 60 năm hoạt động. Đó là tình trạng thiếu hụt 9 phòng học văn hóa so với quy mô 45 lớp hiện tại. Hệ thống phòng học bộ môn, nhà đa năng và thư viện chưa đạt chuẩn theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Bên cạnh đó, hạ tầng xuống cấp, các dãy nhà hiện hữu có hiện tượng bong tróc, nứt vỡ; hệ thống điện, cấp thoát nước và đặc biệt là thiết bị phòng cháy chữa cháy chưa đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật hiện hành.
Với hơn 80% học sinh là người dân tộc thiểu số, nhu cầu nội trú rất lớn (trên 1.200 em), nhưng quỹ phòng hiện tại chỉ đáp ứng được một phần nhỏ, dẫn đến việc học sinh phải thuê trọ ngoài, gây khó khăn cho việc quản lý và đảm bảo an ninh.
Cô giáo Từ Thị Vân - Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Quế Phong nêu ý kiến: “Là địa bàn xã biên giới, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số cao, điều kiện kinh tế-xã hội còn khó khăn. Việc đầu tư cơ sở vật chất không chỉ nhằm bảo đảm điều kiện dạy học mà còn mang ý nghĩa thực hiện chính sách phát triển giáo dục vùng khó khăn, bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương. Vì vậy, việc đầu tư xây dựng, cải tạo và nâng cấp cơ sở vật chất Trường Trung học phổ thông Quế Phong là yêu cầu cấp thiết, có cơ sở pháp lý rõ ràng và phù hợp với quy hoạch phát triển giáo dục, định hướng phát triển kinh tế-xã hội của địa phương; qua đó bảo đảm điều kiện tổ chức dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và tạo nền tảng để nhà trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 2, phát triển bền vững trong giai đoạn tới.”
Việc mở rộng khu nội trú và xây mới nhà công vụ giúp học sinh vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa có điều kiện sinh hoạt an toàn, từ đó nâng cao chất lượng giáo dục và thực hiện công bằng trong tiếp cận học vấn. Dự án này hoàn toàn tương thích với Quy hoạch tỉnh Nghệ An thời kỳ 2021-2030, góp phần hiện đại hóa kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội miền Tây Nghệ An.
Hiện, Sở Giáo dục và Đào tạo trình Ủy ban Nhân dân tỉnh Nghệ An, Sở Tài chính Nghệ An, Sở Xây dựng Nghệ An xem xét, quyết định chủ trương đầu tư dự án: Cải tạo, nâng cấp, xây dựng các hạng mục công trình Trường Trung học phổ thông Quế Phong, tỉnh Nghệ An trong thời gian tới.
Mô hình trường bán trú kiểu mới tại Nghệ An là một bước đi đột phá, hiện thực hóa Quyết định 3279/QĐ-UBND ngày 24/10/2022 về việc phê duyệt Đề án “Phát triển giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi trên địa bàn tỉnh Nghệ An, giai đoạn 2022-2025, định hướng đến năm 2030.”
Không thể phủ nhận việc triển khai mô hình bán trú cũng là mong muốn của gia đình, phụ huynh và con em vùng dân tộc thiểu số để có một môi trường học tập tốt, đảm bảo về cơ sở vật chất, môi trường, an ninh; có người quản lý, chăm sóc việc ăn ở, học tập và rèn luyện trên cơ sở sử dụng hiệu quả các chính sách của Đảng và Nhà nước đã ban hành mà người dân và học sinh đang được thụ hưởng như Nghị định 116/2016/NĐ-CP (nay là Nghị định 66/2025/NĐ-CP) và Nghị định 81/2021/NĐ-CP.Đã đến lúc các cơ quan chức năng cần thực hiện sơ kết, đánh giá thực tiễn sau hơn 3 năm thí điểm để từ đó có những quyết sách kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các trường.
