Gỡ điểm nghẽn cho hàng Halal Việt Nam
Liên kết đồng bộ từ nguyên liệu, sản xuất, chứng nhận đến logistics sẽ giúp Việt Nam hình thành nguồn cung Halal ổn định cho cả xuất khẩu và thị trường trong nước.
Thị trường Halal (bao gồm các sản phẩm và dịch vụ được sản xuất và cung cấp theo tiêu chuẩn Halal, tức là phù hợp với các quy định của đạo Hồi) toàn cầu mở rộng, thêm cơ hội cho nông sản và thực phẩm chế biến của Việt Nam.
Tuy nhiên, để biến cơ hội thành đơn hàng và thị trường, doanh nghiệp cần tháo gỡ các điểm nghẽn về tiêu chuẩn, chứng nhận, nguyên liệu và chuỗi cung ứng.
Theo bà Bá Thị Nguyệt Thu, Giám đốc Trung tâm Xúc tiến và Trải nghiệm HalalViet, xuất khẩu hàng Halal của Việt Nam hiện vẫn chủ yếu là nông sản và thủy sản thô, trong khi sản phẩm chế biến sâu đáp ứng tiêu chuẩn riêng của từng thị trường còn hạn chế. Nếu nông sản có nguồn gốc tự nhiên thường thuận lợi hơn trong việc đáp ứng những yêu cầu cơ bản của Halal, sản phẩm chế biến sâu phải kiểm soát nhiều hơn về thành phần, nguyên liệu và quy trình sản xuất.
Trong khoảng hai năm trở lại đây, sự quan tâm của doanh nghiệp với thị trường Halal và việc chuẩn hóa sản phẩm đã tăng lên. Tuy nhiên, số lượng doanh nghiệp thực sự có khả năng cung ứng sản phẩm Halal chưa phản ánh đầy đủ qua thống kê, do có doanh nghiệp chỉ sản xuất theo đơn hàng riêng, phục vụ một khách hàng hoặc một thị trường cụ thể.
Qua kết nối với khách hàng nước ngoài, bà Bá Thị Nguyệt Thu cho biết, doanh nghiệp Việt Nam còn gặp khó trong việc tìm kiếm sản phẩm chế biến sâu phù hợp với yêu cầu cụ thể của từng thị trường; nhu cầu có nhưng khả năng tập hợp nguồn cung đạt chuẩn chưa tương xứng.
Ông Lê Anh Ngọc, Trưởng phòng Chất lượng và đánh giá sự phù hợp, Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) chỉ rõ: Việt Nam có nhiều lợi thế về nông, lâm, thủy sản, vị trí địa lý thuận lợi và hệ thống kiểm soát an toàn thực phẩm đáp ứng yêu cầu của nhiều thị trường lớn. Thế nhưng, điểm nghẽn lớn là hệ thống tiêu chuẩn và chứng nhận Halal chưa thống nhất trên toàn cầu, mỗi thị trường có thể đặt ra yêu cầu riêng đối với sản phẩm và tổ chức chứng nhận.
Cùng đó, sự khác biệt về tiêu chuẩn khiến doanh nghiệp phải xác định rõ thị trường mục tiêu ngay từ đầu để lựa chọn hệ thống chứng nhận phù hợp. Nếu muốn một sản phẩm tiếp cận nhiều thị trường, chi phí và yêu cầu tuân thủ có thể tăng lên đáng kể. Một số thị trường còn đặt điều kiện đối với tổ chức chứng nhận, trong đó có yêu cầu tổ chức chứng nhận của Việt Nam phải có đại diện tại nước sở tại.
Theo ông Lê Anh Ngọc, việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, thúc đẩy công nhận lẫn nhau giữa các hệ thống chứng nhận là nhiệm vụ quan trọng để giảm chi phí và tạo thuận lợi cho doanh nghiệp. Với sản phẩm chế biến sâu, yêu cầu Halal cũng không dừng ở nguyên liệu chính mà liên quan đến các thành phần phụ, hương liệu và nguyên liệu có nguồn gốc đặc thù. Nếu một mắt xích không đáp ứng yêu cầu, sản phẩm cuối cùng cũng khó đạt tiêu chuẩn. Vì vậy, Việt Nam cần hình thành hệ thống cung ứng nguyên liệu Halal ổn định thay vì chỉ tập trung vào chứng nhận sản phẩm cuối cùng.
Đại diện một số doanh nghiệp cũng chỉ ra rằng: Các vấn đề nổi bật hiện nay là tiêu chuẩn và chứng nhận, chuỗi cung ứng cùng hạ tầng logistics Halal và thiếu thông tin thị trường. Doanh nghiệp cần biết thị trường nào có nhu cầu, yêu cầu chứng nhận ra sao, sản phẩm nào có khả năng tiếp cận và những rủi ro cần chuẩn bị trước.
Hơn nữa, phát triển Halal không chỉ phục vụ xuất khẩu khi nhu cầu trong nước đang xuất hiện rõ hơn từ hệ thống khách sạn, nhà hàng và khu du lịch phục vụ khách quốc tế theo đạo Hồi. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc liên kết với những hệ thống sản phẩm có sẵn hoàn toàn có thể gia nhập thị trường này. Do đó, nếu cùng nhau xây dựng hệ sinh thái, chắc chắn sẽ thay đổi được rất nhiều.
Ở góc độ chứng nhận, ông Nguyễn Tuấn Anh, Quyền Giám đốc Trung tâm Chứng nhận Phù hợp (QUACERT), Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, cho biết: Chứng nhận Halal được xem như một “giấy thông hành” trong thương mại. Tuy nhiên, Halal không chỉ là bổ sung một loại giấy chứng nhận vào bộ hồ sơ xuất khẩu. Tiêu chuẩn đối với sản phẩm tập trung vào nguyên liệu, quá trình sản xuất, bảo quản, vận chuyển, ghi nhãn và truy xuất nguồn gốc nhằm bảo đảm tính Halal, ngăn ngừa lây nhiễm chéo và duy trì tính toàn vẹn của sản phẩm trong suốt chuỗi cung ứng.
Một doanh nghiệp đã đáp ứng HACCP hay ISO 22000 chưa có nghĩa là mặc nhiên đáp ứng đầy đủ yêu cầu Halal. Bởi, thị trường Halal có những yêu cầu đặc thù liên quan đến nguyên liệu, điều kiện sản xuất và nguyên tắc quản lý. Ngoài ra, yếu tố niềm tin có ý nghĩa đặc biệt; nếu sản phẩm vi phạm nguyên tắc Halal, ảnh hưởng không chỉ dừng ở một lô hàng hay một doanh nghiệp mà còn có thể tác động tới uy tín của thương hiệu.
Bà Vũ Thị Thanh Huyên, Tổng giám đốc Hợp tác xã Nhà Xanh Toàn Cầu cho hay: Doanh nghiệp đã xuất khẩu từ năm 2009, từ năm 2012 bắt đầu chuẩn hóa bộ sản phẩm từ hạt và cây chia tại Việt Nam. Dù có nhiều chứng nhận và đã có khách hàng là những nhà máy lớn tại Bangladesh, Pakistan, Indonesia và Ai Cập, doanh nghiệp vẫn gặp khó khăn khi mở rộng thị trường do mỗi quốc gia có yêu cầu khác nhau về tiêu chuẩn, văn hóa và tín ngưỡng.
Từ kinh nghiệm thực tế, bà Vũ Thị Thanh Huyên cho rằng doanh nghiệp cần tập trung vào ba yếu tố: minh bạch nguồn gốc nguyên liệu, tinh sạch trong sản xuất để tránh lây nhiễm chéo và an toàn về chất lượng. Cùng đó đề xuất hoạt động xúc tiến thương mại cần đi sâu vào từng thị trường và kỳ vọng các Thương vụ Việt Nam tại nước ngoài hỗ trợ nhận diện nhu cầu thực tế, yêu cầu kỹ thuật, khác biệt trong quy định, chứng nhận được chấp nhận và các đối tác phù hợp.
Là thị trường có thể mở rộng đầu ra cho hàng Halal Việt Nam, ông Phùng Văn Thành, Thương vụ Việt Nam tại Malaysia chia sẻ: Một trong những nguyên nhân khiến xuất khẩu Việt Nam sang Malaysia tăng chậm là rào cản liên quan đến Halal.
Các sản phẩm thực phẩm, đồ uống xuất khẩu vào Malaysia thường phải đáp ứng tiêu chuẩn Halal nghiêm ngặt và được cấp chứng nhận, trong khi nhiều sản phẩm Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầu này. Vì vậy, các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu tốt sang Malaysia hiện chủ yếu vẫn là sản phẩm công nghiệp, chế tạo, máy móc, thiết bị, nguyên liệu, những nhóm hàng không đòi hỏi chứng nhận Halal.
Trong khi đó, Malaysia có khoảng 34,2 triệu người, 60,4% theo đạo Hồi và đang định hướng phát triển thành một trung tâm thương mại của thế giới Hồi giáo.
Theo ông Phùng Văn Thành, Malaysia thuộc nhóm 5 quốc gia nhập khẩu thực phẩm Halal hàng đầu trong Tổ chức Hợp tác Hồi giáo với kim ngạch nhập khẩu thực phẩm Halal hàng năm trên 20 tỷ USD; quy mô thị trường thực phẩm Halal của Malaysia ước khoảng 50 tỷ USD mỗi năm.
Việt Nam có lợi thế về nguồn nguyên liệu khi thuộc top 10 thế giới về xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản chủ lực như gạo, cà phê, hạt điều, hồ tiêu, nông sản chế biến sâu, dược liệu. Hơn 80% nông sản thuần thực vật của Việt Nam đáp ứng bản chất Halal cơ bản do có thành phần tự nhiên, không chứa cồn hay các dẫn xuất bị cấm.
Tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm phát triển sản phẩm Halal, dịch vụ chuyên gia, tư vấn phát triển sản phẩm và chi phí xin cấp, duy trì chứng nhận.
Một hướng hợp tác có thể khả thi là doanh nghiệp Việt Nam và Malaysia cùng sản xuất sản phẩm bảo đảm tiêu chuẩn, chất lượng Halal và được cấp chứng nhận Halal của Malaysia.
Theo ông Phùng Văn Thành, Malaysia không chỉ là thị trường tiêu dùng với quy mô lớn mà còn trở thành cầu nối để hàng hóa Halal Việt Nam tiếp cận thị trường Hồi giáo khác.
Theo các chuyên gia thương mại, tại Các tiểu Vương quốc Ả rập Thống nhất (UAE), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Việt Nam-Các Tiểu vương quốc Arab Thống nhất (CEPA) mở thêm cơ hội cho hàng Việt nhưng để tận dụng thị trường, doanh nghiệp cần đáp ứng tiêu chuẩn Halal ngay từ đầu. Việc chuẩn hóa cần bắt đầu từ vùng nguyên liệu, quy trình sản xuất, bảo quản, vận chuyển đến chứng nhận và logistics, thay vì chờ đến khi có đơn hàng mới thực hiện.
Ngoài ra, muốn mở rộng thị trường Halal, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng chuỗi cung ứng, đáp ứng yêu cầu từng thị trường; các cơ quan hỗ trợ cung cấp thông tin và kết nối đối tác.
Liên kết đồng bộ từ nguyên liệu, sản xuất, chứng nhận đến logistics sẽ giúp Việt Nam hình thành nguồn cung Halal ổn định cho cả xuất khẩu và thị trường trong nước./.
