Giảm chi phí logistics, biến lợi thế biển thành lợi thế cạnh tranh

Với doanh nghiệp xuất khẩu, logistics chính là chìa khóa quyết định khả năng cung ứng, đáp ứng yêu cầu khách hàng và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh đặt mục tiêu đến năm 2030 chi phí logistics giảm còn dưới 12% GDP, đồng thời hình thành 5-6 trung tâm logistics hiện đại ngang tầm quốc tế.

Đây không chỉ là bài toán giảm giá vận chuyển, mà đòi hỏi phải tái cấu trúc mạng lưới logistics, tăng kết nối đa phương thức, số hóa chuỗi cung ứng và khai thác hiệu quả lợi thế cảng biển, đưa biển thành trục tăng trưởng mạnh cho kinh tế Việt Nam trong tương lai không xa.

Chi phí cao bào mòn sức cạnh tranh

Với doanh nghiệp xuất khẩu, logistics chính là chìa khóa quyết định khả năng cung ứng, đáp ứng yêu cầu khách hàng và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế.

Bà Phạm Thị Bích Phượng, Giám đốc điều hành Công ty Noval Engineering cho biết, chi phí đường bộ, thời gian vận chuyển, bốc xếp và các dịch vụ logistics chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng chi phí đưa hàng hóa đến tay khách hàng, trong đó, vận tải đường bộ đang tạo áp lực lớn.

Doanh nghiệp vừa không chủ động được thời gian vận chuyển hàng hóa, vừa gặp thách thức trong quá trình di chuyển, thậm chí phải chờ ghép đủ hàng mới có thể vận chuyển, khiến thời gian giao hàng kéo dài. Chưa kể, doanh nghiệp nhỏ và vừa khó có khả năng đàm phán mức chi phí logistics với đối tác.

Thực trạng này không chỉ khiến doanh nghiệp phải chịu thêm một khoản chi phí từ lưu kho, nhân công, hàng hóa chậm luân chuyển, mà còn đặt doanh nghiệp trước nguy cơ khó đáp ứng cam kết, yêu cầu của đối tác. Đây là lo ngại lớn nhất của các doanh nghiệp.

“Khi đối tác yêu cầu hàng hóa phải được xuất trong khoảng 30 ngày nhưng doanh nghiệp không thể chủ động thời gian vận chuyển, sức cạnh tranh rõ ràng bị ảnh hưởng. Lâu dần điều này sẽ làm giảm khả năng cung ứng, tham gia của doanh nghiệp vào chuỗi hàng hóa toàn cầu,” bà Phượng chia sẻ.

Theo bà Đặng Thị Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh, chi phí logistics tại Việt Nam hiện khoảng 18% GDP, cao hơn một số nước trong khu vực như Thái Lan và Singapore.

Cảng quốc tế Cái Mép-Thị Vải. (Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN)

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nơi hệ thống cảng biển đang đảm nhận khoảng 65% tổng sản lượng container của cả nước; cụm cảng Cái Mép - Thị Vải có khả năng tiếp nhận các tàu container lớn và kết nối trực tiếp với các tuyến vận tải biển quốc tế, việc chi phí logistics cao đang đặt ra trăn trở rất lớn về khả năng phát huy lợi thế cửa biển của thành phố.

“Nguyên nhân quan trọng nằm ở sự thiếu đồng bộ trong kết nối của toàn bộ không gian kinh tế phía Nam. Hàng hóa từ các trung tâm sản xuất như Bình Dương, Đồng Nai và các khu vực lân cận vẫn gặp không ít bất cập khi vận chuyển về cảng. Hệ thống giao thông kết nối chưa hoàn chỉnh, phụ thuộc lớn vào đường bộ và tình trạng ùn tắc khiến thời gian vận chuyển kéo dài, từ đó làm tăng chi phí của doanh nghiệp,” bà Đặng Thị Minh Phương phân tích.

Đồng quan điểm, ông Lê Quang Trung, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Cảng quốc tế Cái Mép, cho rằng, chi phí logistics vẫn cao do nhiều điểm nghẽn liên quan đến hạ tầng, phí và phụ phí, chính sách, kết nối và công nghệ thông tin.

Đáng chú ý, chi phí logistics còn phát sinh từ việc chuỗi cung ứng có quá nhiều khâu trung gian, sử dụng những phương thức vận tải truyền thống tiêu hao nhiều nhiên liệu và chịu tác động bởi những điểm nghẽn hạ tầng. Khi hàng hóa phải chờ đợi tại một khâu nào đó, thời gian cũng trở thành chi phí.

Tại sự kiện Đối thoại Hữu nghị Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ 3 năm 2026, nhiều chuyên gia quốc tế cũng khẳng định, chi phí logistics cao là vấn đề toàn cầu, là bài toán khó của rất nhiều đô thị lớn trên thế giới. Giải bài toán này cần sự đồng bộ từ chính sách, đến hạ tầng, thậm chí là hợp tác quốc tế.

Xây dựng hệ sinh thái chuỗi logistics

Nhận định của các chuyên gia, thị trường logistics Việt Nam hiện có quy mô khoảng 42-45 tỷ USD mỗi năm, với tốc độ tăng trưởng có thể đạt 16-18%. Với tốc độ tăng trưởng hàng hóa xuất nhập khẩu, khả năng vươn lên của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu, logistics được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng quy mô và đóng vai trò quan trọng vào việc tăng sức cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam.

Gỡ nút thắt hiện tại, Chính phủ đã đưa ra hàng loạt các giải pháp từ hoàn thiện chính sách đến nỗ lực hoàn thiện hạ tầng, kết nối đồng bộ trong từng khu vực và kết nối vào mạng lưới vận tải đa phương thức toàn cầu. Theo ông Lê Quang Trung, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Hàng hải Việt Nam, Chủ tịch Hội đồng quản trị Cảng quốc tế Cái Mép, chiến lược phát triển ngành logistics của Việt Nam đã cho thấy quyết tâm của Chính phủ trong việc thúc đẩy lưu thông hàng hóa, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.

“Việt Nam đã phát triển các tuyến đường sắt kết nối liên vận sang Trung Quốc; hay hoàn thiện hệ thống giao thông, đặc biệt là chính sách hỗ trợ phát triển hàng hải và đường thủy nội địa, thay thế cho vận tải đường bộ... Trong tương lai, chúng tôi tiếp tục đẩy mạnh quy trình vận tải xanh, giảm thời gian, chi phí, giảm khâu trung gian, kỳ vọng sẽ sớm gỡ nút thắt logistics cho doanh nghiệp, hướng đến mục tiêu cắt giảm chi phí logistics như Nghị quyết 20-NQ/TW đặt ra,” ông Lê Quang Trung chia sẻ.

Ở góc độ doanh nghiệp cảng, ông Trương Tấn Lộc, Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty Trách nhiệm hữu hạn Cảng Quốc tế Tân Cảng-Cái Mép, Phó Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh nêu rõ, hệ thống hạ tầng kết nối đang được đầu tư mạnh, đường bộ, đường sắt và đường thủy được kết nối tốt hơn, hàng hóa từ các tỉnh, thành phố Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ đến khu vực Cái Mép-Thị Vải sẽ có thêm lựa chọn về phương thức vận chuyển, qua đó rút ngắn thời gian và giảm chi phí, tăng lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam tiến sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Đây là cơ sở để Việt Nam đạt mục tiêu cắt giảm về 12% GDP như Nghị quyết 20/NQ-TW đặt ra.

Tuy nhiên, ông Trương Tấn Lộc cũng chỉ ra hạ tầng cứng chỉ là một nửa của bài toán; hạ tầng mềm, gồm cơ chế tạo thuận lợi thương mại, kết nối dữ liệu, thủ tục hải quan, liên thông giữa các cảng và chuyển đổi số đóng vai trò không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả chuỗi logistics. Do đó, việc quy hoạch logistics cần được tính toán trên cơ sở dòng hàng thực tế của Việt Nam, thay vì đơn thuần sao chép mô hình nước ngoài.

“Làm sao chúng ta có cơ chế tạo điều kiện thuận lợi cho thương mại một cách thực chất thì chắc chắn hoạt động thương mại sẽ phát triển và góp phần giảm chi phí logistics. Chúng ta nói đến cơ chế hải quan, kết nối liên thông giữa các cảng thông qua một hệ sinh thái số; rồi chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây là những yếu tố mà tôi cho rằng sẽ giúp giảm chi phí logistics trong dài hạn. Đặc biệt, chuyển đổi xanh ngay lập tức có thể chưa giúp giảm chi phí, nhưng về dài hạn sẽ là một giải pháp quan trọng để tiết giảm chi phí,” ông Trương Tấn Lộc cho biết.

Từ góc nhìn của mình, ông Lộc cũng nhấn mạnh, Thành phố Hồ Chí Minh đang có những định hướng rất lớn, từ khu thương mại tự do gắn với cảng biển đến quy hoạch các trung tâm logistics quy mô lớn. Vấn đề là cần có lộ trình thực hiện rõ ràng và quan trọng nhất, sau khi quy hoạch phải bảo đảm đạt được mục tiêu giảm chi phí logistics.

Quan điểm này cũng tương đồng với phân tích của ông Anthony Tay, đồng sáng lập, chuyên gia huấn luyện và tư vấn tại Cargonomics (Singapore). Theo ông Anthony Tay, tái cấu trúc mạng lưới logistics không nên được hiểu đơn giản là đưa kho hàng, CFS (kho gom hàng lẻ) hay depot (bãi container rỗng) ra khỏi đô thị. Nếu chỉ di chuyển cơ sở mà không xử lý các điểm nghẽn trong mạng lưới, thì thực chất chỉ là di chuyển tình trạng ùn tắc từ nơi này sang nơi khác.

Ông Anthony Tay cũng thông tin, mô hình tương lai cần hình thành một mạng lưới đa nút, trong đó hàng hóa được tổ chức theo chuỗi từ cụm sản xuất, đến trung tâm logistics, cảng cửa ngõ và vận tải biển quốc tế, đưa hàng hóa từ trung tâm logistics đến hệ thống phân phối đô thị, thị trường tiêu dùng, trong đó không chỉ tối ưu từng mắt xích riêng lẻ mà phải tối ưu toàn bộ hành trình của hàng hóa.

“Hiệu quả logistics cần được đo bằng tốc độ lưu chuyển hàng hóa đầu-cuối, độ tin cậy và tổng chi phí logistics, thay vì chỉ nhìn vào năng suất của từng tài sản riêng lẻ. Như vậy, muốn kéo chi phí logistics xuống, cần chuyển từ tư duy tối ưu từng mắt xích sang tổ chức lại toàn bộ chuỗi cung ứng, trong đó hàng hóa phải được gom đủ lớn, các phương thức vận tải được kết nối, dữ liệu được chia sẻ và các chủ thể cùng vận hành theo một kế hoạch thống nhất,” ông Anthony Tay nhấn mạnh.

Như vậy, để đưa chi phí logistics xuống dưới 12% GDP vào năm 2030 theo Nghị quyết 20-NQ/TW không chỉ đơn giản là giảm giá cước vận tải, mà đây là bài toán tái cấu trúc cả hệ thống chuỗi cung ứng logistics, trên cơ sở hình thành một hệ sinh thái thống nhất, đồng bộ, nơi mỗi mắt xích đều gắn chặt với nhau, đưa dòng chảy hàng hóa thuận lợi lưu thông từ nơi sản xuất đến cảng và ra quốc tế.

Theo bà Đặng Thị Minh Phương, Chủ tịch Hiệp hội Logistics và Cảng biển Thành phố Hồ Chí Minh, cần có cơ chế điều phối đủ mạnh để tổ chức không gian logistics thống nhất, tránh tình trạng mỗi địa phương quy hoạch một cách riêng lẻ. Cùng với đó là nghiên cứu cơ chế “luồng xanh logistics,” đồng bộ quy trình kiểm tra và chính sách phí cảng biển nhằm tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, cần xây dựng hệ thống thông tin trung tâm kết nối dữ liệu giữa Hải quan, cơ quan quản lý, cảng, doanh nghiệp vận tải, doanh nghiệp logistics và chủ hàng. Khi dữ liệu được chia sẻ theo thời gian thực, các bên có thể chủ động hơn trong kế hoạch giao nhận, giảm thời gian chờ và tối ưu năng lực khai thác.

Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế từ cảng nước sâu, vị trí trên các tuyến hàng hải quốc tế và mạng lưới sản xuất ngày càng mở rộng là những điều kiện quan trọng để đưa kinh tế biển thành trục tăng trưởng mạnh trong tương lai.

Việc cắt giảm chi phí về dưới 12% GDP vào năm 2030, không chỉ gỡ điểm nghẽn về logistics, mà còn giải bài toán lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp, tăng nguồn lực và khả năng cạnh tranh cho hàng hóa Việt Nam trên toàn cầu./.

(TTXVN/Vietnam+)