Đưa nghị quyết vào đời sống: Để nguồn lực kiều bào thành sức mạnh quốc gia
Công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn tới cần mang tính chủ động, sáng tạo và thích ứng cao, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ từ tư duy đến phương thức triển khai.
Lần đầu tiên, Nghị quyết số 23-NQ/TW xác định người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam mà còn là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia.
Từ nhận thức đến hành động, Nghị quyết số 23 thể hiện rõ yêu cầu đổi mới mạnh mẽ phương thức triển khai công tác người Việt Nam ở nước ngoài theo hướng đồng hành, kiến tạo cơ chế và phát huy vai trò của kiều bào đối với sự phát triển của đất nước.
Từ tầm nhìn đến hướng đi mới
Thực tiễn mới đặt ra yêu cầu cấp thiết trong việc đổi mới, nâng cao công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Không chỉ dừng lại ở việc bảo hộ, chăm lo thuần túy, mà còn cần chủ động nâng tầm vị thế cho cộng đồng, hỗ trợ kiều bào củng cố chỗ đứng vững chắc về cả chính trị lẫn kinh tế tại nước sở tại; xây dựng cơ chế giúp người Việt Nam ở nước ngoài có thể phát huy ảnh hưởng, uy tín, nguồn lực và kinh nghiệm để đóng góp cho quê hương.
Phân tích quan điểm này, ông Nguyễn Trung Kiên, Chủ nhiệm Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài cho rằng cộng đồng người Việt toàn cầu đã được đặt vào vị trí chủ thể, cùng tham gia giải quyết các bài toán phát triển quốc gia. Tiến trình này đòi hỏi những bước chuyển đổi cốt lõi: Từ “kết nối” sang “đồng kiến tạo,” từ “vận động” sang “thể chế hóa nguồn lực,” từ “bảo tồn” sang “lan tỏa giá trị Việt.” Qua đó, khơi dậy và phát huy tối đa mọi nguồn lực của kiều bào phục vụ cho các mục tiêu phát triển chiến lược của đất nước.
Theo ông Nguyễn Trung Kiên, công tác người Việt Nam ở nước ngoài giai đoạn tới cần mang tính chủ động, sáng tạo và thích ứng cao, đòi hỏi sự đổi mới mạnh mẽ từ tư duy đến phương thức triển khai với phương châm “Đồng hành-Đồng kiến tạo-Kết nối.”

Cụ thể, công tác người Việt Nam ở nước ngoài phải được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển kinh tế-xã hội chung của đất nước, gắn kết chặt chẽ với các chương trình mục tiêu quốc gia nhằm khơi thông và lồng ghép mọi nguồn lực của kiều bào vào tiến trình phát triển đồng bộ.
Làm rõ những điểm mới về chính sách, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Thị Thu Hằng cho rằng công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong thời gian tới cần được triển khai theo tư duy lấy cộng đồng làm trung tâm, lấy kết nối và phát huy nguồn lực làm trọng tâm.
Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng cho hay điểm mới quan trọng nhất là Nghị quyết đã xác định rõ sự đổi mới tư duy và phương thức triển khai công tác người Việt Nam ở nước ngoài, từ vận động, tập hợp, chăm lo sang đồng hành, kiến tạo cơ chế và phát huy nguồn lực.
Trước hết, đồng hành có nghĩa là Đảng và Nhà nước tiếp tục thực hiện đầy đủ trách nhiệm chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người Việt Nam ở nước ngoài; phối hợp bảo đảm an ninh, an toàn cho công dân; hỗ trợ cộng đồng ổn định cuộc sống, hội nhập và phát triển tại nước sở tại; giữ gìn tiếng Việt, bản sắc văn hóa dân tộc và tăng cường gắn bó với quê hương, đất nước.

Thứ hai, kiến tạo cơ chế là yêu cầu mới rất quan trọng của Nghị quyết. Thay vì chỉ dừng lại ở việc vận động, tập hợp, chăm lo, Nhà nước cần chủ động hoàn thiện thể chế, chính sách và môi trường thuận lợi để người Việt Nam ở nước ngoài có điều kiện tham gia vào quá trình phát triển đất nước. Điều đó bao gồm việc hoàn thiện các cơ chế thu hút, trọng dụng trí thức, chuyên gia, doanh nhân; tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh, đổi mới sáng tạo; mở rộng các kênh để kiều bào tham gia nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, tư vấn chính sách và các chương trình phát triển quốc gia.
Thứ ba, huy động nguồn lực không chỉ được hiểu là huy động nguồn lực tài chính mà rộng hơn là phát huy toàn diện nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, bao gồm tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới quan hệ quốc tế, uy tín và vị thế của cộng đồng tại nước sở tại.
Cả hệ thống chính trị vào cuộc
Để Nghị quyết số 23-NQ/TW nhanh chóng đi vào cuộc sống, Thứ trưởng Lê Thị Thu Hằng cho rằng đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng Bộ Ngoại giao hay Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài mà là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị.
Đối với Bộ Ngoại giao và Ủy ban Nhà nước về người Việt Nam ở nước ngoài, thời gian tới sẽ tập trung vào bốn nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

Đầu tiên là đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền và quán triệt sâu rộng Nghị quyết. Mục tiêu là tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong các cấp, ngành, địa phương, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cũng như trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về những quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ mà Nghị quyết đã đề ra.
Cùng với đó là khẩn trương thể chế hóa và cụ thể hóa Nghị quyết thành các chương trình, kế hoạch và cơ chế thực hiện. Bộ Ngoại giao đang chủ trì tham mưu xây dựng Chương trình hành động của Chính phủ và kế hoạch triển khai của Bộ Ngoại giao; đồng thời phối hợp với các bộ, ngành, địa phương rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi hơn để người Việt Nam ở nước ngoài gắn bó, cống hiến và tham gia vào quá trình phát triển đất nước.
Một nhiệm vụ quan trọng là xây dựng các cơ chế và hệ sinh thái kết nối nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài. Trọng tâm là hình thành cơ sở dữ liệu, các mạng lưới chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và thế hệ trẻ người Việt Nam trên toàn cầu; thiết lập các nền tảng để khớp nối cung cầu, tăng cường kết nối các mạng lưới này với nhu cầu phát triển của các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học trong nước, qua đó chuyển hóa tiềm năng thành các chương trình hợp tác, dự án đầu tư, hoạt động chuyển giao công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Sau cùng là đổi mới mạnh mẽ phương thức triển khai công tác người Việt Nam ở nước ngoài theo tinh thần đồng hành, kiến tạo và phát huy nguồn lực. Các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cần phát huy vai trò là đầu mối kết nối nguồn lực Việt Nam tại địa bàn; chủ động phát hiện, tập hợp và kết nối các chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân, trí thức kiều bào với các nhu cầu phát triển trong nước. Tinh thần xuyên suốt là chuyển từ tư duy tổ chức hoạt động sang kiến tạo cơ chế kết nối lâu dài; từ vận động, tập hợp sang đồng hành, hỗ trợ và phát huy nguồn lực

Đóng góp giải pháp một cách cụ thể, Phó Giáo sư-Tiến sỹ Bùi Hoài Sơn, Ủy viên chuyên trách Ủy ban Văn hóa, Xã hội của Quốc hội cho rằng tư duy đầu tiên cần thay đổi là không chỉ hỏi làm thế nào để “thu hút kiều bào về nước” mà phải tạo điều kiện để trí tuệ, vốn, mạng lưới và tình cảm của kiều bào có thể đóng góp cho đất nước ở bất cứ đâu.
Ông Sơn phân tích, Nghị quyết 23 đã đặt ra khá rõ yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật theo hướng đồng bộ, minh bạch, ổn định, kiến tạo, phục vụ; có cơ chế đột phá đối với chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sỹ và thế hệ trẻ; đồng thời tạo thuận lợi về quốc tịch, nhà ở, đầu tư, đơn giản hóa thủ tục hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ công. Nghị quyết cũng yêu cầu tạo điều kiện để chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài có thể tham gia lâu dài hoặc đóng góp linh hoạt từ xa.
Do đó, khi thể chế hóa cần đặc biệt chú ý bốn vấn đề: Đơn giản hơn nữa các thủ tục về quốc tịch, cư trú, sở hữu nhà ở và đầu tư; xây dựng cơ chế một cửa số hóa để kiều bào không phải đi qua nhiều cơ quan; có chính sách thực sự cạnh tranh để thu hút chuyên gia, nhà khoa học, doanh nhân và nhân tài; đồng thời tạo cơ chế linh hoạt để họ tham gia dự án, nghiên cứu, giảng dạy, chuyển giao công nghệ mà không nhất thiết phải trở về sinh sống lâu dài.
Tuy nhiên, ông Sơn cho rằng “ưu đãi” quan trọng nhất không nhất thiết là ưu đãi về tiền. Điều mà người tài và nhà đầu tư cần trước hết là một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, thủ tục dễ dự đoán, sự ghi nhận đúng giá trị của họ và một cơ chế để những sáng kiến tốt được lắng nghe, thử nghiệm và triển khai.
“Muốn khơi dậy nguồn lực kiều bào, trước hết phải tạo dựng niềm tin. Khi người Việt Nam ở bất cứ nơi đâu cảm thấy mình thực sự là một phần của cộng đồng dân tộc, được trân trọng và có một cánh cửa thuận lợi để đóng góp, thì tình yêu quê hương sẽ có điều kiện chuyển hóa thành nguồn lực phát triển đất nước,” ông Bùi Hoài Sơn nói.

Theo đó, việc xậy dựng một mạng lưới có thể bắt đầu bằng những nhóm chuyên gia tinh hoa theo từng lĩnh vực cụ thể như AI, dữ liệu, lượng tử, công nghệ sinh học, điện toán đám mây… được xác định theo nhu cầu quốc gia. Quan trọng hơn, mỗi mạng lưới cần gắn với những nhiệm vụ cụ thể của đất nước.
“Khi Việt Nam có một bài toán cần giải quyết, chúng ta phải biết: Ai là chuyên gia người Việt giỏi nhất trên thế giới về bài toán đó và họ đang ở đâu; họ có thể đóng góp theo hình thức nào và ai chịu trách nhiệm kết nối họ với đúng cơ quan, đúng doanh nghiệp, đúng dự án tại Việt Nam,” ông Sơn chỉ rõ.
Như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định: “Mọi người con đất Việt - dù sinh sống ở đâu, dù quá khứ thế nào - đều có thể đồng hành, chung sức, góp phần xây dựng một tương lai tươi sáng cho dân tộc. Đảng và Nhà nước luôn nhất quán mở rộng vòng tay, trân trọng mọi đóng góp, lắng nghe mọi tiếng nói xây dựng, đoàn kết từ cộng đồng người Việt ở nước ngoài - những người đang góp phần kết nối Việt Nam với thế giới.”
Tinh thần đó của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm không chỉ khẳng định sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn là cơ sở để phát huy hiệu quả nguồn lực của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Để những người Việt trên khắp năm châu cùng chung vai đưa đất nước vững bước trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa mục tiêu một Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc, trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045./.

