Đồi Bến Tắt - nơi Tổ quốc đón những người lính trở về

Phóng viên TTXVN thực hiện chùm bài "Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn: Biểu tượng của lòng biết ơn" góp phần lý giải vì sao Nghĩa trang là biểu tượng của lòng biết ơn, không gian ký ức dân tộc.

Giữa đại ngàn Trường Sơn, Nghĩa trang Liệt sĩ Quốc gia Trường Sơn là nơi yên nghỉ của 10.263 anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trên tuyến vận tải chiến lược Hồ Chí Minh. Vì sao ngay khi chiến tranh còn chưa kết thúc, Nhà nước đã quyết định xây dựng một nghĩa trang quốc gia giữa đồi Bến Tắt? Và vì sao nơi đây trở thành "mái nhà chung" của những người lính Trường Sơn?

Hành trình đi tìm lời giải cũng là hành trình khám phá sự ra đời của một công trình mang ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử tri ân của dân tộc.

Vì sao chọn Bến Tắt?

Tiếng chuông từ Đài tưởng niệm ngân lên giữa màn sương sớm. Âm thanh ấy lan qua những hàng thông, dừng lại trước hơn mười nghìn hàng bia trắng lặng im trên đồi Bến Tắt.

Mỗi buổi sáng ở Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn đều bắt đầu như vậy. Bình yên. Và đủ sức khiến bất cứ ai dừng chân cũng phải nhớ rằng nơi đây là điểm kết thúc của một cuộc hành quân kéo dài suốt ba thập niên chiến tranh.

Trên ngọn đồi nhìn xuống thượng nguồn sông Bến Hải, 10.263 người lính đang yên nghỉ. Họ đến từ 53 tỉnh, thành phố theo đơn vị hành chính năm 1975, thuộc nhiều đơn vị của Bộ đội Trường Sơn và các lực lượng chiến đấu, phục vụ chiến đấu trên tuyến vận tải chiến lược Hồ Chí Minh. Mỗi người mang theo một quê hương, một tuổi xuân và một câu chuyện còn dang dở. Sau chiến tranh, tất cả gặp nhau trên ngọn đồi mang tên Bến Tắt.

Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn, nơi yên nghỉ của 10.263 Anh hùng liệt sỹ đã ngã xuống trên tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

Giữa đại ngàn Trường Sơn có biết bao cao điểm, bao cánh rừng từng in dấu chân người lính. Vì sao nơi được chọn lại là Bến Tắt? Câu trả lời bắt đầu từ một ý nghĩ được hình thành khi chiến tranh vẫn còn chưa kết thúc.

Theo ông Trần Văn Nhân, Phó Trưởng ban phụ trách Ban Quản lý Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn, từ năm 1974, Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên, Tư lệnh Bộ đội Trường Sơn (Đoàn 559), đã đề xuất xây dựng một nghĩa trang tập trung dành cho những liệt sỹ hy sinh trên tuyến vận tải chiến lược Trường Sơn.

Trong một chuyến vào thăm Bộ đội Trường Sơn, khi nghe Trung tướng Đồng Sỹ Nguyên báo cáo về hàng vạn cán bộ, chiến sỹ đang yên nghỉ rải rác trên đất Việt Nam, Lào và Campuchia, Tổng Bí thư Lê Duẩn đồng tình với chủ trương quy tập các liệt sỹ về một nghĩa trang chung sau ngày đất nước thống nhất, để đồng đội, nhân dân và thân nhân có nơi hương khói, tưởng niệm.

Đề xuất ấy sau đó được Bộ Chính trị chấp thuận. Đó là một quyết định đặc biệt. Lần đầu tiên, việc xây dựng một nghĩa trang quy mô quốc gia được chuẩn bị ngay khi cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn. Giữa những tính toán về chiến dịch, về hậu cần, về từng cung đường ra trận, vẫn có một sự chuẩn bị cho ngày những người lính trở về.

Sau nhiều lần khảo sát, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 cân nhắc ba địa điểm: khu vực Đường 20 (Quảng Bình), khu vực cầu Đầu Mầu trên Quốc lộ 9 và đồi Bến Tắt. Cuối cùng, Bến Tắt được lựa chọn.

Sự lựa chọn ấy không phải ngẫu nhiên. Đồi Bến Tắt thuộc xã Vĩnh Trường, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị trước đây (nay là xã Cồn Tiên, tỉnh Quảng Trị), nằm ở thượng nguồn sông Bến Hải - dòng sông từng chia cắt đất nước hơn hai thập niên.

Ngay gần Bến Tắt là Khe Hó, nơi Tiểu đoàn 301 từng đóng quân, được xem là điểm khởi đầu phía Nam của tuyến đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Sau Hiệp định Paris năm 1973, khi khu vực này thuộc vùng giải phóng, Bộ Tư lệnh Đoàn 559 cũng chuyển đại bản doanh về Bến Tắt. Vùng đất từng tiễn những đoàn quân đi vào chiến trường, sau hòa bình lại trở thành nơi đón họ trở về.

Hồ nước ở Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn soi bóng hàng thông và bầu trời Trường Sơn. (Ảnh: TTXVN phát)

Nếu nhìn trên bản đồ, Bến Tắt nằm ở một vị trí đặc biệt. Phía Bắc nối với hậu phương lớn miền Bắc; phía Nam mở về các chiến trường; phía Tây là đại ngàn Trường Sơn và đất bạn Lào; phía Đông hướng ra đồng bằng ven biển.

Trong kháng chiến, hàng triệu lượt cán bộ, chiến sỹ từ nơi đây lên đường vào Nam. Sau hòa bình, cũng trên những cung đường ấy, những đoàn xe quy tập lặng lẽ đưa đồng đội trở về. Một con đường. Hai cuộc hành quân. Một lần đi vì độc lập dân tộc. Một lần trở về trong vòng tay của Tổ quốc.

Có lẽ vì thế, nhiều người dân Quảng Trị vẫn gọi Bến Tắt bằng một cái tên giản dị "đất mẹ". Từ một quả đồi bên dòng Bến Hải, nơi đây trở thành mái nhà chung của hơn 10.000 người lính Trường Sơn. Sau cuộc hành quân cuối cùng, họ trở về với đất mẹ, trở về trong ký ức của đồng đội, của nhân dân và của Tổ quốc.

Mái nhà chung cho những người lính Trường Sơn

Ngày 24/2/1975, khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước bước vào giai đoạn quyết định, Bộ Tư lệnh Trường Sơn quyết định khởi công xây dựng Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn trên đồi Bến Tắt. Quyết định ấy được đưa ra chỉ hơn hai tháng trước ngày đất nước thống nhất.

Công trình do lực lượng công binh Trường Sơn trực tiếp thi công, nòng cốt là Tiểu đoàn Công binh 73 do ông Trần Ngọc Nhị làm Tiểu đoàn trưởng, cùng các đơn vị tăng cường thuộc Sư đoàn Công binh 472 và 473.

Đó đều là những người vừa hoàn thành nhiệm vụ mở đường, bắc cầu, bảo đảm giao thông trên tuyến vận tải chiến lược. Khi tiếng súng còn chưa kịp lắng, họ lại bắt đầu một nhiệm vụ khác: dựng nơi yên nghỉ lâu dài cho chính những đồng đội của mình.

Sau ngày 30/4/1975, công trường bước vào giai đoạn thi công khẩn trương. Quảng Trị khi ấy vẫn còn mang nguyên những vết thương của chiến tranh. Hố bom chồng lên hố bom, nhiều khu vực chưa được rà phá hết vật nổ. Đường sá đứt gãy, điện chưa có, nước sạch khan hiếm. Xi măng, sắt thép, đá xây dựng đều phải đưa từ nhiều nơi về qua những tuyến đường vừa được khai thông. Đồi Bến Tắt vẫn phủ kín cây bụi và cỏ dại.

Trước khi dựng những hàng mộ đầu tiên, lực lượng công binh phải mở đường, rà phá bom mìn, san gạt mặt bằng rồi tạo từng bậc nền theo địa hình tự nhiên của quả đồi. Hầu như mọi công việc đều dựa vào sức người. Đất đào bằng cuốc xẻng. Đá đục ngay tại chỗ. Bao xi măng được gùi lên từng con dốc đất đỏ.

Mùa mưa đến, đường trơn trượt, sạt lở liên tục. Ban ngày là tiếng cuốc, tiếng búa. Ban đêm, ánh đèn dầu, đèn măng-sông lại sáng lên giữa đại ngàn. Đó không chỉ là một công trường xây dựng. Đó còn là công trường của những người lính đang hoàn thành lời hẹn cuối cùng với đồng đội. Họ từng mở đường Trường Sơn, từng bắc cầu vượt suối, từng giữ cho những đoàn xe không ngừng tiến về phía trước. Nay, cũng chính họ dựng nên nơi an nghỉ để những người đã ngã xuống không còn nằm rải rác giữa rừng sâu, núi thẳm.

Có lẽ vì vậy mà mỗi phần việc hoàn thành không chỉ là một mét đường, một bậc cấp hay một hàng mộ. Đó là thêm một người đồng đội có ngày trở về. Ưu tiên lớn nhất của công trường là nhanh chóng hoàn thiện các khu mộ để đón những đoàn quy tập hài cốt từ các chiến trường.

Chỉ chưa đầy ba tháng sau ngày khởi công, đến 19/5/1975, những phần mộ đầu tiên đã hoàn thành để an táng các liệt sỹ. Từ đó, việc xây dựng nghĩa trang và công tác quy tập diễn ra gần như song hành. Những chuyến xe chở vật liệu nối tiếp những chuyến xe đưa đồng đội trở về.

Có những ngày, lễ truy điệu diễn ra ngay bên cạnh nơi tiếng cuốc, tiếng xẻng vẫn còn vang lên. Khi đoàn xe quy tập dừng bánh, những người lính công binh lặng lẽ đặt dụng cụ xuống, đứng nghiêm tiễn biệt đồng đội rồi lại trở về với phần việc còn dang dở. Không ai thúc giục họ.

Trung tướng Hà Thọ Bình, Tư lệnh Quân khu 4 và Đoàn công tác dâng hương tưởng niệm các Anh hùng liệt sỹ tại Nghĩa trang Liệt sỹ quốc gia Trường Sơn. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

Chính ký ức về những người đã nằm lại trên Trường Sơn là mệnh lệnh. Đến ngày 22/12/1975, Nghĩa trang Liệt sỹ Trường Sơn đã an táng 10.263 hài cốt liệt sỹ được quy tập từ các chiến trường trên tuyến vận tải chiến lược Hồ Chí Minh.

Điều đặc biệt là chỉ có 93 phần mộ chưa xác định được thông tin. Còn lại đều ghi rõ họ tên, quê quán, đơn vị và thân nhân. Con số ấy không chỉ phản ánh quy mô của công tác quy tập. Nó còn cho thấy sự chặt chẽ trong công tác quản lý hồ sơ liệt sỹ của Bộ đội Trường Sơn ngay giữa những năm tháng chiến tranh ác liệt. Nhờ đó, sau ngày đất nước thống nhất, hàng vạn gia đình đã biết nơi người thân mình yên nghỉ.

Sau hơn 20 năm xây dựng, ngày 30/4/1977, các hạng mục chính của Nghĩa trang Liệt sỹ Quốc gia Trường Sơn hoàn thành. Từ một quả đồi đầy cây dại và hố bom, Bến Tắt trở thành nơi hội tụ của hơn 10.000 người lính đã hy sinh trên tuyến đường Hồ Chí Minh.

Nhưng công trình hoàn thành không có nghĩa hành trình đã khép lại. Đâu đó giữa đại ngàn Trường Sơn vẫn còn những người lính chưa được tìm thấy. Vẫn còn những gia đình đi suốt mấy chục năm chỉ để hỏi một câu: người thân mình nằm ở đâu? Vì thế, những chuyến đi tìm đồng đội vẫn tiếp tục. Những đội quy tập vẫn lặng lẽ vượt rừng, băng suối, sang cả đất bạn Lào và Campuchia để đưa những người lính trở về.

Sinh viên thắp hương tưởng niệm các liệt sỹ chưa xác định danh tính tại Nghĩa trang Liệt sỹ quốc gia Trường Sơn. (Ảnh: Nguyên Linh/TTXVN)

Chiều buông xuống trên đồi Bến Tắt. Tiếng chuông tưởng niệm lại ngân lên giữa rừng thông. Âm thanh ấy đi qua hơn mười nghìn hàng bia trắng, đi qua những lối đi rợp bóng cây, đi qua dòng Bến Hải đang lặng lẽ chảy dưới chân đồi. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày những người lính Trường Sơn hoàn thành cuộc hành quân cuối cùng.

Nhưng Bến Tắt chưa bao giờ chỉ là một nghĩa trang. Nơi đây là điểm gặp nhau của lịch sử và ký ức. Là nơi những người đã hy sinh được trở về với đất mẹ. Và cũng là nơi người sống tìm đến để hiểu rằng phía sau hòa bình hôm nay là biết bao tuổi xuân đã nằm lại giữa đại ngàn. Mỗi con đường, mỗi hàng cây, mỗi bậc đá trên đồi Bến Tắt đều được đặt ở đó không chỉ bằng bàn tay của người xây dựng, mà còn bằng một đạo lý đã trở thành cốt cách của dân tộc: những người đã hy sinh vì Tổ quốc sẽ không bao giờ bị lãng quên.

Bài 2: Bản trường ca giữa đại ngàn