Doanh nghiệp Việt nâng chuẩn chất lượng, tăng sức cạnh tranh

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu liên tục thay đổi, việc chủ động nâng chất lượng giúp doanh nghiệp từng bước nâng cao sức chống chịu, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế.

Để chinh phục thị trường quốc tế, doanh nghiệp Việt Nam không chỉ cần sản phẩm có chất lượng mà còn phải đáp ứng những tiêu chuẩn ngày càng cao về an toàn, sản xuất xanh và phát triển bền vững. Từ lựa chọn thị trường đến kiên trì theo đuổi các chứng nhận quốc tế, doanh nghiệp Việt đang chủ động nâng chuẩn sản phẩm để tăng sức cạnh tranh, mở rộng cơ hội xuất khẩu.

Chủ động nâng chuẩn

Dù đã xuất khẩu sản phẩm sang Mỹ, châu Âu và một số thị trường khác, Công ty Đầu tư và Xúc tiến thương mại Doanh nghiệp Việt (Thành phố Hồ Chí Minh) vẫn tiếp tục tìm kiếm những thị trường mới nhằm mở rộng đầu ra cho nông sản Việt.

Theo ông Phạm Thế Hoàng, trợ lý Tổng giám đốc công ty, các sản phẩm doanh nghiệp phân phối đã đáp ứng yêu cầu của Cơ quan Quản lý thực phẩm và dược phẩm Mỹ (FDA), với khoảng 50 mã hàng được phân phối tại 50 bang của Mỹ. Tuy nhiên, khi hướng đến những khu vực có đặc thù tiêu dùng và quy định riêng, doanh nghiệp vẫn phải chuẩn bị các chứng nhận tương ứng.

Ngoài những thị trường đã có, công ty mong muốn khai thác thêm nhiều thị trường mới; trong đó, với những thị trường yêu cầu chứng nhận Halal và các tiêu chuẩn riêng, chúng tôi đang tìm cách đáp ứng.

Với Hợp tác xã nông nghiệp và sản xuất Khánh Lâm (Hà Nội), việc lựa chọn thị trường Halal là hướng đi nhằm mở rộng đầu ra cho các sản phẩm dầu thực vật nguyên chất. Theo bà Phùng Thị Xuân, đại diện hợp tác xã, đơn vị xác định chất lượng nguyên liệu đầu vào và quy trình sản xuất là những yếu tố quan trọng để tạo nền tảng tiếp cận thị trường. Đến nay, đã có ba sản phẩm dầu lạc, dầu vừng và dầu đậu nành đạt chứng nhận Halal, hợp tác xã đang hoàn thiện hồ sơ, thủ tục để hướng đến xuất khẩu.

“Các sản phẩm của hợp tác xã đều hướng tới ăn sạch, sống khỏe, sử dụng nguyên liệu phù hợp và sản xuất theo quy trình khép kín, tiêu chuẩn ISO và Halal. Chúng tôi kiên trì theo đuổi con đường này và đang xúc tiến sản phẩm vào thị trường Halal trong nước và quốc tế,” bà Phùng Thị Xuân chia sẻ.

Nhu cầu mở rộng thị trường cũng gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng, cũng là định hướng phát triển của Công ty Bông Lúa Food (Thành phố Hồ Chí Minh). Hiện doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm nui, mỳ, bún, miến từ gạo trắng, gạo lứt, khoai lang tím và rau củ, đã xuất khẩu sang Mỹ, Australia, Singapore, Campuchia và Đài Loan, chủ yếu thông qua các chuỗi bán lẻ, nhà hàng, khách sạn và kênh dịch vụ ăn uống.

Bên cạnh những thị trường hiện có, doanh nghiệp đang hướng đến thị trường Halal; trong đó, có Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE) và Malaysia. Đây là những thị trường được đánh giá có tiềm năng nhưng cũng đặt ra yêu cầu về văn hóa tiêu dùng, chất lượng sản phẩm và việc tuân thủ các quy định chứng nhận.

Theo ông Lê Hoàng Lân, đại diện Công ty Bông Lúa Food, muốn khai thác thị trường này, doanh nghiệp phải tuân thủ những quy định, tiêu chuẩn Halal và duy trì chất lượng trong toàn bộ quá trình sản xuất. Quan trọng hơn, phải làm nghề bằng cái tâm, sản xuất ra sản phẩm chất lượng cao thì khách hàng mới quay lại.

Thực tế, với doanh nghiệp, lựa chọn thị trường mục tiêu ngay từ đầu có ý nghĩa quan trọng, bởi mỗi thị trường đều có những yêu cầu khác nhau về chất lượng, quy trình sản xuất, chứng nhận và hồ sơ sản phẩm.

Ông Trần Văn Tân Cương, Tổng giám đốc Công ty Halal Quốc gia Việt Nam, đồng sáng lập Công ty cổ phần Halal Mart Việt Nam cho biết, đơn vị đang thúc đẩy kết nối doanh nghiệp Việt Nam với các thị trường Halal; trong đó có Malaysia và khu vực Trung Đông. Việc đưa sản phẩm vào hệ thống siêu thị không chỉ tạo thêm kênh tiếp cận người tiêu dùng mà còn mở ra cơ hội kết nối với các đơn vị xúc tiến thương mại và nhà mua hàng quốc tế.

Thông qua các hoạt động này, doanh nghiệp có điều kiện tìm hiểu nhu cầu thị trường, giới thiệu sản phẩm và từng bước xây dựng quan hệ hợp tác xuất khẩu.

“Không chỉ đưa doanh nghiệp trong nước ra nước ngoài tham gia hội chợ, xúc tiến thương mại, chúng tôi còn chủ động mời các đối tác quốc tế đến Việt Nam tham quan sản phẩm, tìm hiểu năng lực sản xuất và khảo sát nhà máy. Cách làm này giúp doanh nghiệp chuẩn bị kỹ hơn về yêu cầu của thị trường, đồng thời tạo điều kiện để nhà mua hàng trực tiếp đánh giá sản phẩm và năng lực cung ứng trước khi tiến tới hợp tác,” ông Trần Văn Tân Cương chia sẻ.

Ảnh minh họa. (Ảnh: Đồng Thúy/TTXVN)

Xây dựng năng lực

Nếu chứng nhận chất lượng và tiêu chuẩn riêng của từng thị trường là điều kiện để hàng hóa tiếp cận nhà nhập khẩu, sản xuất xanh đang trở thành yêu cầu ngày càng quan trọng đối với năng lực cạnh tranh dài hạn của doanh nghiệp xuất khẩu.

Ông Lê Văn Danh, Phó Giám đốc Sở Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh nhận định các tiêu chuẩn về môi trường, phát triển bền vững và xuất khẩu xanh đã vượt khỏi phạm vi một xu hướng để trở thành yêu cầu cốt lõi của thương mại quốc tế.

Việc Liên minh châu Âu áp dụng Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) cùng với các tiêu chuẩn ESG đang tạo sức ép lớn đối với doanh nghiệp, nhưng đồng thời cũng thúc đẩy chuỗi cung ứng Việt Nam đổi mới và chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.

“Các tiêu chuẩn về môi trường, phát triển bền vững và xuất khẩu xanh không còn là lựa chọn mang tính xu hướng mà đã trở thành yêu cầu cốt lõi, là ‘tấm vé thông hành’ quyết định năng lực cạnh tranh của hàng hóa quốc gia trên thị trường quốc tế,” ông Lê Văn Danh nhấn mạnh.

Để làm được điều này, doanh nghiệp không chỉ tập trung cải thiện sản phẩm cuối cùng mà cần xem xét toàn bộ quá trình sản xuất, từ nguyên liệu, năng lượng sử dụng đến quản lý dữ liệu và phát thải.

Bà Lâm Thúy Ái, Chủ tịch Câu lạc bộ Doanh nghiệp Mekong tại Thành phố Hồ Chí Minh cho rằng, một số doanh nghiệp đã bắt đầu đầu tư để đáp ứng yêu cầu xanh từ các thị trường xuất khẩu. Với những doanh nghiệp mới, việc thiết kế nhà máy và quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn xanh ngay từ đầu có thể giúp giảm áp lực điều chỉnh về sau.

Tuy nhiên, đối với những nhà máy đã hoạt động nhiều năm, quá trình chuyển đổi không đơn giản. Doanh nghiệp phải tính toán thời gian đầu tư, nguồn vốn và chi phí để cải tiến dây chuyền, giảm phát thải, đồng thời đáp ứng các tiêu chuẩn, chứng nhận cần thiết, trong khi tài chính là một rào cản lớn. Do đó, doanh nghiệp cần xây dựng lộ trình phù hợp với năng lực tài chính, từng bước cải tiến quy trình sản xuất và duy trì các tiêu chuẩn đã đạt được.

Ông Alberto Vettoretti, Tổng giám đốc Ascentium khu vực ASEAN và Đặc khu Hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) cho rằng: Doanh nghiệp cần bắt đầu chuyển đổi xanh từ việc thu thập dữ liệu, đánh giá quy trình vận hành và xác định những khâu cần cải thiện. Đây là cơ sở để tính toán hiệu quả đầu tư, lựa chọn giải pháp phù hợp và đáp ứng yêu cầu của từng thị trường xuất khẩu.

“Doanh nghiệp Việt Nam cũng cần nghiên cứu mức độ yêu cầu của thị trường để có bước đi phù hợp. Việc tiếp cận những thị trường trong khu vực châu Á trước, nơi các yêu cầu xanh có thể ít khắt khe hơn một số thị trường phát triển, là một phương án để doanh nghiệp tích lũy kinh nghiệm, chuẩn bị cho những thị trường có tiêu chuẩn cao hơn như Liên minh châu Âu,” ông Alberto Vettoretti chia sẻ.

Đồng quan điểm, bà Huỳnh Đinh Thái Linh, Tổng giám đốc Công ty Trách nhiệm hữu hạn MTV WTC Becamex cho rằng: Doanh nghiệp cần bắt đầu từ dòng sản phẩm có thế mạnh nhất, tự tin nhất, sau đó tiếp cận những đơn hàng nhỏ để tích lũy kinh nghiệm, hoàn thiện năng lực cung ứng và từng bước mở rộng quy mô.

Thay vì đặt mục tiêu xuất khẩu ngay đến những thị trường xa với yêu cầu cao, doanh nghiệp có thể tìm kiếm cơ hội tại các thị trường gần trong khu vực, trong đó khái niệm “chuỗi cung ứng gần bờ” được bà Linh nhắc đến như một định hướng khai thác thị trường sao cho hiệu quả nhất trong thời gian ngắn nhất.

“Tuy nhiên tôi phải nhấn mạnh là điều kiện đầu tiên lúc nào cũng phải là chất lượng. Cho dù chúng ta có bắt đầu khởi động việc xuất khẩu từ thị trường nào thì chúng ta cũng phải quan tâm đến chất lượng trước. Và chúng ta hãy bắt đầu từ một dòng sản phẩm mà chúng ta tự tin nhất và bắt đầu bằng những đơn hàng nhỏ, sau đó tiếp tục khai thác những hợp đồng lớn hơn và tham gia sâu hơn trong chuỗi cung ứng của ngành hàng đó,” bà Huỳnh Đinh Thái Linh nhấn mạnh.

Chuyển từ việc đáp ứng từng yêu cầu thị trường riêng lẻ sang xây dựng năng lực cạnh tranh toàn diện, dựa trên chất lượng, chứng nhận phù hợp và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường, doanh nghiệp Việt Nam đang cho thấy khả năng thích ứng linh hoạt trước đòi hỏi của thị trường.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu liên tục thay đổi, việc chủ động nâng chất lượng còn giúp doanh nghiệp từng bước nâng cao sức chống chịu, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng quốc tế và xây dựng nền tảng xuất khẩu bền vững./.

(TTXVN/Vietnam+)