Định vị chiến lược khoa học xã hội và nhân văn trong kỷ nguyên số

Việt Nam cần thay đổi tư duy đầu tư, khẩn trương xây dựng hạ tầng dữ liệu số và tháo gỡ các "nút thắt" cơ chế để giải phóng năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức trong bối cảnh AI bùng nổ.

Tại cuộc làm việc của Thường trực Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số mới đây, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh khoa học xã hội và nhân văn có vai trò đặc biệt quan trọng trong nghiên cứu lý luận, xây dựng đường lối, hoàn thiện pháp luật, dự báo chiến lược, phát triển văn hóa, con người và bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tác động mạnh đến mọi mặt đời sống xã hội, nhiều nhà khoa học cho rằng khoa học xã hội Việt Nam cần tiếp tục đổi mới tư duy nghiên cứu, nâng cao năng lực dự báo và tăng cường đóng góp trực tiếp cho hoạch định chính sách phát triển đất nước.

Nhận diện sớm các vấn đề xã hội trong thời đại số

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đức Chiện, Phó Viện trưởng Viện Xã hội học và Tâm lý học, Tổng Biên tập Tạp chí Xã hội học và Tâm lý học, thực tiễn cho thấy xã hội luôn vận động và biến đổi không ngừng dưới tác động của nhiều yếu tố trong và ngoài nước. Đặc biệt trong những thập kỷ gần đây, sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ đã tác động sâu sắc đến mọi mặt của đời sống xã hội, làm thay đổi cấu trúc xã hội và hệ giá trị của mỗi quốc gia.

Việt Nam là quốc gia đang phát triển với tốc độ phát triển nhanh, đồng thời cũng đang trong quá trình thay đổi theo xu hướng hiện đại hóa và tiến bộ của nhân loại. Tuy nhiên, cùng với cơ hội phát triển, nhiều vấn đề xã hội mới cũng nảy sinh như già hóa dân số nhanh, sự phát triển của tầng lớp trung lưu hay những thay đổi trong cấu trúc gia đình Việt Nam.

Trong thời gian qua, các nghiên cứu khoa học xã hội ở Việt Nam đã sớm quan tâm, đưa ra nhiều phân tích và khuyến nghị khoa học, hàm ý chính sách liên quan đến các vấn đề này. Ngay từ những năm 1990, các nghiên cứu của Viện Xã hội học đã cung cấp những bằng chứng luận giải về mức sinh và các yếu tố tác động đến biến động dân số. Sang những năm 2000, nhiều nghiên cứu tiếp tục đề cập đến cơ hội dân số vàng và dự báo về quá trình già hóa dân số ở Việt Nam.

Cùng với đó, quá trình đổi mới cũng kéo theo chuyển đổi cơ cấu nghề nghiệp và phân tầng xã hội diễn ra mạnh mẽ. Một số nghiên cứu của Viện đã tập trung phân tích các yếu tố tác động đến di động xã hội, phân tầng xã hội cũng như sự gia tăng của tầng lớp trung lưu và vai trò của tầng lớp này trong phát triển xã hội.

Quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và hiện đại hóa cũng đang ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ và cấu trúc gia đình Việt Nam. Các nghiên cứu đã nhận diện nhiều yếu tố dẫn đến sự thay đổi quy mô gia đình theo xu hướng gia đình hạt nhân, đồng thời xuất hiện nhiều loại hình gia đình mới như gia đình bà mẹ đơn thân hay sống chung không kết hôn.

Theo Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đức Chiện, kết quả và phân tích từ các nghiên cứu thực nghiệm của Viện không chỉ dừng ở mô tả, nhận diện các hiện tượng và vấn đề xã hội nảy sinh trong đời sống đương đại mà còn tập trung luận giải, làm rõ bản chất, tính quy luật và các yếu tố chi phối, từ đó đưa ra những khuyến nghị khoa học và hàm ý chính sách phục vụ công tác quản lý và phát triển xã hội.

Trong bối cảnh hiện nay, cuộc sống của con người đang chịu tác động đa chiều, đặc biệt là sự xuất hiện của nhiều yếu tố mới phức tạp và khó lường. Vì vậy, yêu cầu đặt ra với khoa học xã hội không chỉ là nhanh chóng nhận diện và phát hiện vấn đề mà còn phải chỉ ra bản chất, quy luật vận động, dự báo động thái và hệ quả của các hiện tượng xã hội.

Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Đức Chiện đặc biệt quan tâm đến tác động của môi trường số và không gian mạng đối với tâm lý và hành vi xã hội. Theo ông, sự phát triển của công nghệ thông tin không chỉ làm thay đổi phương thức truyền thông mà còn làm thay đổi quan hệ và tương tác xã hội của con người.

Điều đáng quan ngại hiện nay là môi trường số và không gian mạng đang tác động mạnh đến tâm lý và hành vi của người dân, đặc biệt là giới trẻ. Những hiện tượng như trầm cảm, sao nhãng học hành, bạo lực mạng, lệch chuẩn giá trị hay lệch chuẩn xã hội đang hiện hữu ngày càng rõ trong đời sống gia đình, cộng đồng và xã hội.

Những vấn đề xã hội và tâm lý này đã được Viện Xã hội học và Tâm lý học triển khai nhiều nghiên cứu và khảo sát ở quy mô quốc gia cũng như nghiên cứu trường hợp địa phương trong những năm gần đây.

Các nghiên cứu không chỉ nhận diện thực trạng mà còn tập trung bóc tách nguyên nhân, phân tích hệ quả, hệ lụy và đưa ra các khuyến nghị liên quan đến vai trò của gia đình, nhà trường, cộng đồng và các thiết chế xã hội trong việc hỗ trợ con người thích ứng với thời đại số.

Thay đổi tư duy để bảo đảm phát triển hài hòa

Ấn tượng với chỉ đạo của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước: “Nếu khoa học tự nhiên và công nghệ tạo nền tảng cho năng lực sản xuất và công nghệ quốc gia, thì khoa học xã hội và nhân văn tạo nền tảng cho năng lực lãnh đạo, quản trị, xây dựng thể chế, phát triển văn hóa, con người và giữ vững ổn định xã hội,” Thạc sỹ Phạm Thị Hương Ngát, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa và Dân sinh cho rằng đây là chỉ đạo mang ý nghĩa chiến lược sâu sắc. Việc đặt lĩnh vực này về đúng vị trí không chỉ dừng lại ở câu chuyện ngân sách, mà là sự thay đổi tư duy để bảo đảm phát triển hài hòa giữa công nghệ với con người, giữa tăng trưởng kinh tế với gìn giữ bản sắc dân tộc.

Thạc sỹ Phạm Thị Hương Ngát, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hóa và Dân sinh cho rằng: Trong bối cảnh Trí tuệ Nhân tạo bùng nổ, dữ liệu đã trở thành tài nguyên chiến lược. (Ảnh: Thanh Hương/TTXVN)

Thạc sỹ Phạm Thị Hương Ngát chỉ ra, dù đã có những khẳng định về tầm quan trọng, song mức độ đầu tư thực tế cho khoa học xã hội và nhân văn vẫn chưa tương xứng. Xã hội hiện nay thường có xu hướng “lệch pha,” ưu tiên khối kỹ thuật-công nghệ do nhìn thấy ngay hiệu quả trực tiếp, hữu hình.

Trong khi đó, giá trị của khoa học xã hội mang tính dài hạn, gián tiếp và khó đo đếm bằng các chỉ số kinh tế đơn thuần. Thực tế cho thấy, nhiều bài toán phát sinh trong quá trình phát triển không thuần túy là công nghệ, mà thuộc về con người, văn hóa và thể chế.

Nhấn mạnh vai trò cốt lõi của khoa học xã hội và nhân văn trong quản trị quốc gia và phát triển văn hóa, Thạc sỹ Phạm Thị Hương Ngát, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Văn hoá và Dân sinh cho rằng, trong bối cảnh Trí tuệ Nhân tạo (AI) bùng nổ, dữ liệu đã trở thành tài nguyên chiến lược. Việc xây dựng kho dữ liệu văn hóa-ngôn ngữ-di sản số là nhiệm vụ cấp thiết.

Do đó, cần thay đổi tư duy đầu tư, khẩn trương xây dựng hạ tầng dữ liệu số và tháo gỡ các "nút thắt" cơ chế để giải phóng năng lực sáng tạo của đội ngũ trí thức.

Đồng thời, cần ban hành chiến lược quốc gia thống nhất về số hóa dữ liệu văn hóa, di sản; phân định rõ trách nhiệm của các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu và trường đại học nhằm khắc phục tình trạng dữ liệu phân tán, thiếu liên thông và lệch chuẩn như hiện nay. Ngoài ra, ưu tiên xây dựng hệ cơ sở dữ liệu mở và chuẩn hóa ngay từ đầu.

Dữ liệu phải bao hàm cả ngôn ngữ, phong tục, tri thức dân gian, ký ức cộng đồng, nghệ thuật truyền thống...; đẩy mạnh ứng dụng Trí tuệ Nhân tạo, dữ liệu lớn và điện toán đám mây vào lưu trữ, phân loại và khai thác di sản; hình thành cơ chế chia sẻ dữ liệu dùng chung giữa các cơ quan nghiên cứu, thư viện, bảo tàng.

Huy động đội ngũ chuyên gia liên ngành, kết hợp chặt chẽ giữa nhà nghiên cứu văn hóa, lịch sử, ngôn ngữ với chuyên gia công nghệ. Cùng với đó, Nhà nước cần đầu tư dài hạn, ổn định cho công tác số hóa để cứu giữ các dữ liệu văn hóa dân gian, tiếng nói, chữ viết đang có nguy cơ mai một nhanh chóng.

Bên cạnh hạ tầng dữ liệu, "nút thắt" lớn nhất của khối khoa học xã hội và nhân văn hiện nay nằm ở cơ chế quản lý và tài chính. Thủ tục hành chính, thanh quyết toán rườm rà đang tiêu tốn quá nhiều thời gian của các nhà khoa học. Đặc thù nghiên cứu xã hội cần đi thực địa dài ngày, khảo sát cộng đồng, nghiên cứu định tính... vốn không phù hợp với cơ chế tài chính xơ cứng hiện hành.

Ngoài ra, việc giao nhiệm vụ còn nặng tính hành chính, thiếu cạnh tranh; chế độ đãi ngộ chưa tương xứng khiến ngành khó thu hút người trẻ dấn thân vào các lĩnh vực nền tảng như lịch sử, dân tộc học, ngôn ngữ học…

Để giải quyết triệt để “điểm nghẽn”này, Thạc sỹ Phạm Thị Hương Ngát kiến nghị thời gian tới cần tập trung tháo gỡ ngay 3 vấn đề cốt lõi: Cải cách mạnh mẽ cơ chế tài chính theo hướng khoán chi, giảm thủ tục hành chính, chấp nhận rủi ro khoa học và đánh giá theo hiệu quả đầu ra thay vì hóa đơn, chứng từ; xây dựng cơ chế đặt hàng nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn phát triển đất nước, gắn khoa học xã hội và nhân văn với yêu cầu hoạch định chính sách và quản trị xã hội; tạo môi trường học thuật cởi mở, khuyến khích tư duy phản biện, sáng tạo và liên ngành; có chính sách trọng dụng để thu hút trí thức trẻ tham gia nghiên cứu lâu dài./.

(TTXVN/Vietnam+)