Điều kiện, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài

Nghị định số 103/2026/NĐ-CP quy định cụ thể điều kiện đầu tư ra nước ngoài, thẩm quyền cấp phép và các trường hợp không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Chính phủ ban hành Nghị định số 103/2026/NĐ-CP quy định về đầu tư ra nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý là các quy định về điều kiện và thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Nghị định gồm 5 chương, 45 điều, quy định chi tiết một số điều của Luật Đầu tư; đồng thời đề ra các biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài nhằm mục đích kinh doanh, bao gồm thủ tục đầu tư ra nước ngoài và công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này.

Các hoạt động đầu tư ra nước ngoài không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định gồm: hoạt động đầu tư theo hình thức mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 39 của Luật Đầu tư; hoạt động đầu tư ra nước ngoài trong lĩnh vực dầu khí.

Nghị định áp dụng đối với nhà đầu tư, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và các tổ chức, cá nhân liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài.

Điều kiện đầu tư ra nước ngoài

Nghị định quy định các điều kiện đầu tư ra nước ngoài như sau:

1. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài phù hợp với nguyên tắc quy định tại Điều 38 Luật Đầu tư.

2. Không thuộc ngành, nghề cấm đầu tư ra nước ngoài quy định tại Điều 40 Luật Đầu tư và đáp ứng điều kiện đầu tư ra nước ngoài đối với ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện quy định tại Điều 11 Nghị định này.

3. Có quyết định đầu tư ra nước ngoài theo quy định tại Điều 14 của Nghị định này. 4. Có văn bản của cơ quan thuế xác nhận việc hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế của nhà đầu tư. Thời điểm xác nhận của cơ quan thuế không quá 03 tháng tính đến ngày nộp hồ sơ dự án đầu tư.

5. Đối với tổ chức kinh tế có nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, ngoài các điều kiện quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 nêu trên, phải đáp ứng các điều kiện sau:

a) Sử dụng nguồn vốn thuộc vốn chủ sở hữu để đầu tư ra nước ngoài, không bao gồm phần vốn góp để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam;

b) Có kết quả hoạt động kinh doanh có lãi trong 02 năm liên tiếp liền kề trước năm đăng ký đầu tư ra nước ngoài, được xác định theo báo cáo tài chính đã được kiểm toán (nếu có);

c) Trường hợp sử dụng vốn góp tăng thêm để đầu tư ra nước ngoài thì phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài theo quy định của Nghị định này trước; sau đó thực hiện thủ tục tăng vốn và góp đủ vốn điều lệ tại Việt Nam trước khi chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài.

Thẩm quyền cấp, điều chỉnh, chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài

Nghị định quy định Bộ Tài chính thực hiện việc cấp, điều chỉnh, chấm dứt hiệu lực của Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với:

- Các dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 7 tỷ đồng trở lên;

- Hoặc các dự án thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Đầu tư, trừ các dự án quy định tại Điều 18 của Nghị định này.

Đối với các dự án có vốn đầu tư ra nước ngoài từ 1.600 tỷ đồng trở lên hoặc dự án đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt, Bộ Tài chính phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ chấp thuận trước khi cấp hoặc điều chỉnh Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài.

Ảnh minh họa. (Nguồn: iStock)

Đối với các dự án đã được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận, khi thực hiện điều chỉnh dự án thì không phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận lại trong các trường hợp sau:

a) Thay đổi địa điểm đầu tư trong cùng một quốc gia, vùng lãnh thổ tiếp nhận đầu tư;

b) Tăng vốn đầu tư ra nước ngoài lần đầu với mức tăng không quá 10% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài đã được chấp thuận và không làm thay đổi mục tiêu chính của dự án;

c) Sử dụng lợi nhuận thu được từ dự án đầu tư ở nước ngoài để tái đầu tư vào chính dự án đó theo quy định của pháp luật;

d) Giảm vốn đầu tư ra nước ngoài để chuyển vốn về nước;

đ) Các trường hợp điều chỉnh khác không làm thay đổi mục tiêu chính, quy mô của dự án hoặc không thuộc trường hợp đề xuất áp dụng cơ chế, chính sách hỗ trợ đặc biệt.

Nghị định có hiệu lực từ ngày 03/4/2026; thay thế Chương VI quy định về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Nghị định số 31/2021/NĐ-CP ngày 26/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư.

Điều 18 Nghị định số 103/2026/NĐ-CP – Dự án không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài

Nhà đầu tư thực hiện thủ tục đăng ký giao dịch ngoại hối theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối mà không phải thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài đối với các dự án thuộc một trong các trường hợp sau:

1. Dự án đầu tư ra nước ngoài có mức vốn đầu tư ra nước ngoài nhỏ hơn 7 tỷ đồng và không thuộc ngành, nghề đầu tư ra nước ngoài có điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 41 Luật Đầu tư;

2. Dự án đầu tư ra nước ngoài gắn với quốc phòng, an ninh triển khai theo thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ các nước theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 42 Luật Đầu tư. Thỏa thuận là hiệp định giữa hai Chính phủ hoặc các văn bản thỏa thuận giữa các cơ quan hai nước được Chính phủ phê duyệt.

3. Dự án đầu tư ra nước ngoài của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước thuộc danh mục các tập đoàn, tổng công ty nhà nước quy định tại Phụ lục I của Nghị định số 366/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 của Chính phủ về quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Ảnh minh họa. (Nguồn: iStock)

4. Dự án đầu tư ra nước ngoài không thuộc diện báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét, chấp thuận theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Nghị định này của các tổ chức kinh tế khác theo quy định tại điểm c, khoản 3 Điều 42 Luật Đầu tư đáp ứng các điều kiện sau:

a) Doanh nghiệp có quy mô lớn theo quy định tại Nghị định số 90/2025/NĐ-CP ngày 14/4/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 17/2012/NĐ-CP ngày 13/3/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Kiểm toán độc lập;

b) Sử dụng nguồn ngoại tệ tự có trong trường hợp chuyển vốn đầu tư bằng ngoại tệ và không sử dụng nguồn vốn vay để đầu tư ra nước ngoài;

c) Hoạt động kinh doanh có lãi trong 2 năm liên tiếp liền kề trước năm đầu tư; kết quả được xác định theo báo cáo tài chính hợp nhất của tổ chức kinh tế;

d) Đã có ít nhất 2 dự án đầu tư ra nước ngoài có lợi nhuận chuyển về nước./.

(Vietnam+)