Dấu ấn cụ Huỳnh Thúc Kháng và Báo Tiếng Dân giữa lòng Cố đô Huế
Di tích Tòa soạn báo Tiếng Dân, do cụ Huỳnh Thúc Kháng làm Chủ nhiệm kiêm Chủ bút tọa lạc tại số 193 đường Huỳnh Thúc Kháng, phường Phú Xuân, thành phố Huế, hiện đang bị xuống cấp nghiêm trọng.
Ngày 1/10/2026 đánh dấu cột mốc 150 năm ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng - một chí sỹ yêu nước, nhà hoạt động chính trị, học giả và nhà báo có ảnh hưởng lớn ở Trung Kỳ. Gần một thế kỷ trước, giữa lòng cố đô, cụ đã thắp lên ngọn lửa mang tên Báo Tiếng Dân, trực tiếp làm Chủ nhiệm, Chủ bút và dùng ngòi bút kiên cường suốt 16 năm để đấu tranh vì dân sinh, dân quyền, cải cách xã hội. Ngày nay, dấu tích của một thời báo chí ấy vẫn còn tại số 193 đường Huỳnh Thúc Kháng, phường Phú Xuân, thành phố Huế. Tuy nhiên, công trình đang xuống cấp nghiêm trọng, đặt ra yêu cầu cấp thiết về bảo tồn và phát huy giá trị di sản.
“Ông già Tiếng Dân” và tiếng nói của người dân Trung Kỳ
Giai đoạn 1921-1943, trên cương vị Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ và Chủ nhiệm, Chủ bút Báo Tiếng Dân, cụ Huỳnh Thúc Kháng theo đuổi nhất quán những vấn đề về dân quyền, dân sinh, cải cách chính trị và bảo vệ lợi ích của người dân. Ngày 10/8/1927, Báo Tiếng Dân ra số đầu tiên tại Huế. Đây là tờ báo Quốc ngữ đầu tiên ở Trung Kỳ, do cụ Huỳnh sáng lập, trực tiếp tổ chức hoạt động tòa soạn và nhà in. Trong 16 năm tồn tại, đến số cuối cùng ngày 24/4/1943, báo đã xuất bản 1.766 số.
Trong bối cảnh báo chí tiếng Việt chịu sự kiểm soát chặt chẽ của chính quyền thuộc địa, việc Tiếng Dân duy trì hoạt động trong thời gian dài, giữ tiếng nói tương đối độc lập và không xu phụ nhà cầm quyền là dấu ấn đáng chú ý. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Hoa, trong cuốn Lịch sử báo chí Huế xuất bản năm 2013, Tiếng Dân thể hiện tiếng nói của một xu hướng chính trị không phục tùng đường lối của chủ nghĩa thực dân Pháp, nhưng cũng không phải cơ quan ngôn luận của một lực lượng chính trị “chống chính quyền.”
Tờ báo lựa chọn cách thể hiện chính kiến riêng, công khai đặt những vấn đề quan hệ Pháp - Nam lên mặt báo, yêu cầu cải cách chính trị, bác bỏ việc tăng thuế, đòi mở mang giáo dục, canh nông, tố cáo thực trạng bị áp bức, bóc lột...

Điểm đáng chú ý trong cách làm báo của cụ Huỳnh Thúc Kháng là yêu cầu thông tin phải được điều tra, xác minh. Những vấn đề đã kiểm chứng, dù có thể chịu sức ép, vẫn được cụ kiên quyết cho đăng. Trong những năm 1930, Tiếng Dân nhiều lần trở thành diễn đàn phản ánh những vấn đề xã hội nhức nhối. Năm 1933, khi thực dân Pháp lập nhà đày Buôn Ma Thuột, báo đăng những bài viết do tù chính trị bí mật gửi ra, tố cáo chế độ tù đày.
Trong thời kỳ vận động dân chủ 1936-1939, tờ báo cổ vũ các yêu cầu về dân sinh, dân chủ; đăng bài của nhà báo Pháp A. Viôlít phê phán chế độ cai trị áp bức. Ngày 14/9/1936, cụ Huỳnh Thúc Kháng công bố thư trả lời Ban Thường trực Dân nguyện Trung Kỳ và bản thỉnh cầu tháng 9/1936 trên Tiếng Dân, đưa tờ báo trở thành một diễn đàn quan trọng của phong trào vận động dân chủ đương thời.
Đặc biệt, từ tháng 7/1938, Tiếng Dân đăng loạt bài của Sử Bình Tử - bút danh của cụ Huỳnh Thúc Kháng - khẳng định Hoàng Sa thuộc nước Nam. Cụ viện dẫn các tư liệu lịch sử về Đội Hoàng Sa, hoạt động khai thác sản vật của người Việt và Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn. Những bài viết này cho thấy sự quan tâm của cụ đối với vấn đề chủ quyền lãnh thổ và trách nhiệm của người làm báo trước những vấn đề của đất nước.
Báo Tiếng Dân phải hoạt động trong chế độ kiểm duyệt nghiêm ngặt của Phủ Khâm sứ Trung Kỳ. Có những bài biết chắc sẽ bị cắt nhưng cụ vẫn đưa kiểm duyệt. Phần bị cắt được để trống trên mặt báo để độc giả nhận biết sự can thiệp của nhà cầm quyền. Ngày 24/4/1943, Tiếng Dân bị đình bản. Cụ Huỳnh Thúc Kháng viết bài thơ ghi lại sự kiện khép lại hành trình 16 năm của tờ báo.
Theo Thạc sỹ Nguyễn Anh Tuấn, Hội Khoa học Lịch sử thành phố Huế, nhắc đến cụ Huỳnh - “ông già Tiếng Dân” - là nhắc đến một con người cứng rắn, không chịu khuất phục trước cường quyền. Khi bất đồng với nhà cầm quyền, cụ từ chức Viện trưởng Viện Dân biểu Trung Kỳ, cho rằng sự hiện diện của mình tại Viện là chướng ngại đối với công việc của Viện và quyết định dành thời gian cho Tiếng Dân. Điều đó cho thấy sự nhất quán trong lập trường và nhân cách của cụ.
Nhìn lại chặng đường 16 năm, giá trị của Tiếng Dân không chỉ nằm ở 1.766 số báo mà còn ở những vấn đề được đặt ra trên mặt báo: đời sống nhân dân, thuế khóa, giáo dục, kinh tế, văn hóa, cải cách chính trị, quyền lợi dân chúng và những vấn đề liên quan đến đất nước.
Trong Lịch sử Báo Đảng bộ tỉnh Thừa Thiên Huế cũ (1930-2010), Tiếng Dân được đánh giá là tờ báo đã nói được nhiều tiếng nói của dân, lên án được nhiều ông quan “phụ mẫu,” bênh vực rất nhiều người dân lương thiện bị chà đạp oan ức. Vì thế, trong Kỷ yếu Hội nghị văn hóa toàn quốc năm 1946, Tổng Bí thư Trường Chinh đã nhận xét: “Cụ Huỳnh Thúc Kháng thét Tiếng Dân giữa Kinh thành Huế.”
Dấu ấn ấy khiến Tiếng Dân và người sáng lập tờ báo trở thành một phần quan trọng trong lịch sử báo chí, đời sống tư tưởng và văn hóa của Huế nói riêng, Trung Kỳ nói chung.

Di tích xuống cấp, cần được đánh thức giá trị
Công trình tại số 193 đường Huỳnh Thúc Kháng từng là trụ sở tòa soạn và nhà in Báo Tiếng Dân, được tỉnh Thừa Thiên Huế cũ (nay là thành phố Huế) công nhận là di tích lịch sử cấp tỉnh vào năm 2019. Theo ông Nguyễn Đức Lộc, đại diện Bảo tàng thành phố Huế, đây không chỉ là nơi gắn với lịch sử tờ báo theo nghĩa tưởng niệm, mà chính là không gian cụ Huỳnh Thúc Kháng tổ chức tòa soạn, nhà in, điều hành hoạt động xuất bản và cho ra đời những số báo Tiếng Dân.
Công trình có giá trị về lịch sử, văn hóa - báo chí, gắn với danh nhân Huỳnh Thúc Kháng và có giá trị kiến trúc. Đây cũng là một trong những công trình còn tồn tại tương đối nguyên vẹn ở Huế gắn trực tiếp với hoạt động in ấn, xuất bản báo chí trước năm 1945.
Tuy nhiên, gần một thế kỷ tồn tại và qua nhiều giai đoạn sử dụng, công trình đã xuống cấp và biến đổi đáng kể. Sau khi Báo Tiếng Dân chấm dứt hoạt động, cụ Huỳnh Thúc Kháng cho Hội đồng châu Quảng Nam sử dụng công trình làm ký túc xá cho sinh viên Quảng Nam ra Huế học tập.
Sau năm 1975, nơi đây được bố trí cho một số cán bộ Trường Đại học Y Huế sử dụng, từng bước trở thành khu tập thể với 6 hộ gia đình. Trong quá trình sinh sống, nhiều hạng mục được sửa chữa, cải tạo, làm thay đổi một phần cấu trúc và không gian ban đầu.
Qua khảo sát hiện trạng, nền nhà xuất hiện tình trạng lún, nâng cục bộ, nứt và không đồng đều về cao độ. Khu vực giếng trời bị nghiêng, lún không đều, thoát nước kém, thường đọng nước khi mưa lớn, làm gia tăng ẩm mốc và xuống cấp. Hệ thống tường bị phong hóa, bong tróc; mặt tiền phía đường Huỳnh Thúc Kháng xuất hiện nhiều vết nứt, một số chi tiết trang trí sứt vỡ. Nhiều cấu kiện gỗ bị mối mọt, mục, đặc biệt tại vị trí tiếp giáp tường gạch. Hệ vì kèo được đánh giá hư hỏng khoảng 70%, ảnh hưởng đến khả năng chịu lực và độ ổn định của công trình.
Hệ mái cũng bị biến đổi đáng kể. Mái gỗ với đòn tay, rui và ngói liệt đã được thay bằng xà gồ thép hộp và mái tôn. Một số hạng mục bổ sung như mái hiên bê tông cốt thép đã xuất hiện nứt, thấm dột. Hệ thống cửa hư hỏng nặng; nhiều cửa lá sách, cửa ván đã mất. Cầu thang gỗ gần như không còn khả năng sử dụng. Đáng tiếc, biển hiệu “Báo Tiếng Dân” cùng nhiều trang thiết bị, đồ dùng gắn với hoạt động của tòa soạn và cơ sở in ấn cũng không còn tại công trình.

Thực trạng cho thấy việc bảo tồn di tích không đơn thuần là sửa chữa một ngôi nhà cũ. Điều cần thiết là nhận diện chính xác các yếu tố nguyên gốc, những thành phần có giá trị lịch sử và những yếu tố được bổ sung qua các thời kỳ, từ đó có giải pháp tu bổ phù hợp.
Từ năm 2021, Bảo tàng Lịch sử thành phố Huế (nay là Bảo tàng thành phố Huế) đã chủ động nghiên cứu, lập hồ sơ, tham mưu và đề xuất các cấp có thẩm quyền thống nhất chủ trương đầu tư dự án bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị di tích. Tuy nhiên, đến nay công trình vẫn chưa được bố trí nguồn vốn để triển khai.
Trước mắt, các hạng mục cần ưu tiên là nền, tường, hệ mái và hệ vì kèo gỗ; kiểm tra, xử lý các cấu kiện hư hỏng, chống mối, chống ẩm. Hệ thống cửa, cầu thang và biển hiệu Báo Tiếng Dân cần được nghiên cứu phục hồi trên cơ sở tư liệu lịch sử; đồng thời, cần hoàn thiện hệ thống điện, cấp thoát nước, chiếu sáng, phòng cháy, chữa cháy và chống sét. Quá trình tu bổ cần bảo tồn tối đa yếu tố gốc, hạn chế can thiệp mới và có căn cứ khoa học đối với những chi tiết phục hồi.
Theo ông Nguyễn Đức Lộc, thành phố Huế định hướng nghiên cứu phát huy giá trị di tích theo hướng hình thành không gian lưu niệm, giáo dục lịch sử báo chí và trải nghiệm văn hóa. Nội dung trưng bày sẽ tập trung vào lịch sử hình thành, hoạt động của Tiếng Dân, cuộc đời và sự nghiệp cụ Huỳnh Thúc Kháng cùng những tư liệu, hình ảnh, hiện vật liên quan. Việc sưu tầm, số hóa các số báo Tiếng Dân được xác định là một hướng quan trọng.
Các giải pháp như mã QR, cơ sở dữ liệu số, màn hình tương tác, phim tư liệu, không gian 3D có thể giúp công chúng, nhất là thế hệ trẻ, tiếp cận tư liệu trực quan hơn. Thành phố cũng có thể nghiên cứu tái hiện có chọn lọc không gian tòa soạn, nhà in; giới thiệu quy trình biên tập, in ấn, phát hành báo đầu thế kỷ XX và tổ chức các chương trình trải nghiệm dành cho học sinh, sinh viên.
Sau gần một thế kỷ, dấu tích của Tòa soạn Báo Tiếng Dân vẫn nhắc nhở về một thời kỳ đặc biệt của báo chí và đời sống xã hội Trung Kỳ. Giữ lại nơi này cũng là giữ một phần ký ức của Huế, nơi tiếng nói của báo chí từng góp phần tạo nên những chuyển động của xã hội.
150 năm sau ngày sinh cụ Huỳnh Thúc Kháng, câu chuyện về Tiếng Dân vì thế vẫn còn nguyên giá trị, không chỉ với lịch sử báo chí mà với cả những thế hệ hôm nay và mai sau./.
